Search Results for: Adjustments

  • 0

Chỉnh màu cho ảnh với Image > Adjustments trong Photoshop CS6 (Phần 4)

Lệnh HDR Toning
Lệnh này giúp bạn tạo những hiệu ứng đặc biệt dựa vào việc phân chia và tăng giảm vùng sáng / tối / tương phản. Tương tự như Exposure, lệnh HDR Toning (High Dynamic Range) chỉ làm việc trên ảnh 8 bit và 16 bit.
Chúng ta cùng điểm qua những lệnh con làm nên quyền lực của lệnh này.
PTS_171
Tại mục Preset, chương trình cung cấp cho bạn một vài tùy chọn có sẵn nhưng nó chưa ổn đâu, vẫn cần bạn thủ công một chút.
Mục Method cũng cấp cho bạn 4 tùy chọn, nếu ảnh của bạn là 32 bit thì sẽ có 2 ~ 3 tùy chọn trong này không có tác dụng.
+ Exposure and Gamma: mặc định của máy là đủ tốt rồi, bạn có thể chỉnh nhưng thật nhẹ tay thôi nhé, nếu không thì ảnh của bạn sẽ bị cháy sáng hoặc trông như sắp có bão vậy.
+ Highlight Compression: gom ánh sáng lại, làm cho ảnh như tối đi.
+ Equalize Histogram: mang tiếng là cân bằng đồ thị màu nhưng thường luôn sáng hơn rất nhiều, có điều chưa đến nỗi bị cháy sáng.
+ Local Adaptation: chế độ tùy chọn thích ứng, cấp cho bạn hàng loạt lệnh con:
– Edge Glow: chỉ tác động đến vùng sáng, với độ sáng Strengh và giới hạn vùng sáng Radius. Nếu bạn dùng lệnh này thì đừng quên kiềm chọn Smooth Edges đề vùng sáng thoải mịn dần và tự nhiên hơn.
– Tone and Detail: bạn có thể chình độ xỉn / sáng màu Gamma, mức tương phản sáng Exposure (hãy luôn thật nhẹ tay với Exposure), độ rõ nét Detail.
– Advanced: độ tối Shadow (nếu hình chụp buổi tối thì kênh này không có tác dụng), độ sáng Highlight (nếu hình chụp buổi sáng tăng thông số này dễ làm cháy sáng), độ tán màu Vibrance và bão hòa Saturation (tăng thông số này để hình đậm màu hơn).
– Toning Curve and Histogram: chưa thấy lệnh nào ưu ái cho người dùng nhiều như lệnh HDR Toning này, cung cấp cho bạn hẳn cái đồ thị tông màu để dễ tương tác hơn. Nó hoàn toàn không có nhiều tùy chọn rườm rà như Adjustments > Curves (Ctrl + M), mẹo nhỏ cho bạn: chỉ cần tạo một đường cong có dạng như đồ thị bên dưới là màu lên hoàn hảo liền. ^ ^ Đại loại giống vầy nè:

PTS_173
Ta có kết quả:

PTS_172
Hình sau khi chỉnh, trông như tòa tháp rêu phong phát sáng dưới trời mưa nhỉ ?! Tạm thời bạn đừng quan tâm đến những giọt mưa lất phất, tôi sẽ đề cập đến vào 1 bài viết khác, ở đây tôi tạo thêm cho đúng tình huống của ảnh thôi.
Lưu ý: lệnh này sau khi hoàn tác sẽ gộp (Merge) tất cả các layer thành một, nên những thao tác ghép, cắt xén, thêm bớt gì thì bạn nên thực hiện trước đó nhé!

Lệnh Variations
Là lệnh dùng để biến đổi màu của toàn bộ tấm ảnh theo những tông được chỉ định trước. Lệnh này không linh hoạt trong việc chỉnh màu những vùng riêng biệt trên ảnh nên tôi cũng không mấy mặn mà với nó.

PTS_174
Nhìn hoa cả mắt nhỉ?! Cũng đơn giản thôi. Chương trình cung cấp cho bạn 4 kênh: Shadows, Midtones, Highlights, Saturation và 6 mức độ từ Fine đến Coarse (thường chỉ dùng từ mức 2 ~ 5 thôi).
Bạn có thể chọn thêm màu tại các tùy chọn More + Green / Yellow / Cyan / Red / Blue / Magenta. Cũng có thể chọn Lighter hoặc Darker. Trong lúc thao tác, đừng quên so sánh giữa ảnh Original và Current Pick trong từng mục.

Lệnh Desaturate (Shift + Ctrl + U)
Chuyển đổi toàn bộ màu sắc của Layer hiện hành sang thang độ xám nhưng vẫn giữ nguyên hệ màu ban đầu (RBG hoặc CMYK… chứ không phải là Grayscale).

PTS_143
Sẵn đây, tôi nói luôn về ảnh trắng đen đúng hệ và “trá hình”:
Ảnh trắng đen đúng hệ sẽ thuộc mode màu Grayscale, trong palette Channels chỉ có 1 layer màu Gray.
Còn dạng trá hình là ví dụ trên, mode màu RBG, tuy hiển thị trắng đen nhưng trong Channels có 4 layer thế này:

PTS_142

Lệnh Match color:
Cho phép kết hợp màu sắc của nhiều hình ảnh, nhiều Layer, hoặc giữa nhiều vùng chọn khác nhau. Cho phép hiệu chỉnh màu sắc của bức ảnh qua các thông số về độ chói sáng (Luminance), giới hạn màu hay cường độ màu (Color Intensity)…và lệnh Match color chỉ có tác dụng trên các hình ảnh có mode màu RGB.
Ÿ + Source : File muốn kết hợp màu sắc với File hiện hành. Có thể chọn lần lượt nhiều lần với nhiều file.
Ÿ + Layer : Chọn Layer muốn kết hợp màu sắc với file > Layer hiện hành.
Đừng kiểm chọn Neutralize nếu bạn không muốn hình ảnh bị thêm vào những tông màu trung lập tương phản.

PTS_146
Hình sau khi chỉnh có màu tươi tắn hơn, hồng hồng khá dễ thương.

PTS_147

Lệnh Replace Color:
Thay thế màu hiện hành được chỉ định bằng các giá trị màu mới.

PTS_148
Kiểm chọn Localized Color Cluster để chọn luôn những vùng rìa xung quanh vùng chọn, giúp vùng chọn trông mềm mại hơn.
Muốn mở rộng vùng chọn thì tăng thông số Fuzziness.
3 công cụ hút màu PTS_150 theo thứ tự từ trái sang phải là Eyedropper, Cộng thêm vùng chọn, Trừ bớt vùng chọn. Căn cứ vào màu sắc bạn chọn mà chương trình sẽ thêm hay bớt vùng bạn đã chọn trước đó bằng Eyedropper.
Nên chọn chế độ Selection thay vì Image để có cái nhìn bao quát về phạm vi của vùng chọn.
Bạn hoàn toàn có thể điều chỉnh màu theo ý mình bằng 3 thanh Hue, Saturation và Lightness bên dưới.
Và ta có kết quả:

PTS_149
Tôi đã cố ý nhuộm màu 1 khoảng biển để bạn thấy rõ chức năng của Replace Tool. ^ ^

Lệnh Equalize
Phân bố đều giá trị sáng trung bình cho toàn bộ hình ảnh.
Tôi rất rất là không thích chức năng này; nó không cấp bất cứ tùy chọn nào khác ngoài chế độ tự động. Đối với những vùng tối thì có thể thấy được những chi tiết bị khuất, còn đối với những vùng sáng hơn thì bị nhiễu và lệch màu, tình trạng chung là vỡ hạt trầm trọng. =.=


  • 0

Chỉnh màu cho ảnh với Image > Adjustments trong Photoshop CS6 (Phần 3)

Chúng ta tiếp tục những lệnh thuộc Menu Image > Adjustments. Đây có lẽ là series dài hơi nhất trong Photoshop mà tôi viết (phải chia ra những 4 phần) nhưng tôi bảo đảm những lệnh dưới đây càng về sau sẽ càng thú vị, không phụ lòng kì vọng của bạn đâu. ^ ^

Lệnh Invert (Ctrl + I)
Tạo âm bản cho hình ảnh.
PTS_162
Ảnh thực càng sáng thì vào âm bản càng tối và có sự đảo ngược màu sắc mà chỉ có máy in âm bản hiểu và phân tích được. Mặt khác, âm bản cũng là hình ảnh phản xạ mà mắt chúng ta ghi nhớ được trong vài giây, sau đó thông qua phân tích của não bộ để tạo ra hình ảnh trong trí nhớ.
Hiện tại thì thấy nhiều người thích dùng hiệu ứng này để tạo ảnh kinh dị, đại loại như vầy:
PTS_164
Đây là minh họa thôi nhé! Tôi không khuyến khích bạn biến những hình ảnh đẹp lung linh thành dạng ma quái như vậy. ^ ^

Lệnh Posterize
Chỉ định thông số tông màu cho từng kênh. Lệnh Posterize chỉ định rõ cấp tông hoặc giá trị độ chói cho từng kênh trong hình ảnh, sau đó ánh xạ các pixel lên mức tương hợp gần nhất.
PTS_163
Mặc định Illustrator sẽ hạ xuống mức 4, hình ảnh được tối giản màu. Giảm xuống mức tối thiểu (mức 2) hình trông như pixel. Ảnh thông thường thường ở mức 33. Đến mức 50 gần như bão hòa, bạn có tăng lên thì màu sắc cũng không thay đổi.
Hiện tại thì rất ít ứng dụng dùng lệnh này.

Lệnh Threshold
Chuyển hình ảnh sang màu đen trắng có độ tương phản cao đến mức biến thành ảnh pixel.
Mọi Pixel sáng hơn ngưỡng sẽ bị chuyển thành trắng, ngược lại, những Pixel sậm hơn ngưỡng sẽ bị chuyển thành đen. Ngưỡng ở đây được xác định là vùng màu trung bình, nên những vùng đồng dạng ngưỡng màu như bầu trời và biển trong hình dưới đây mặc định Threshold không thể phân định rõ. Muốn xác định rõ hơn cần phải di chuyển thanh trượt Threshold level đến mức cao nhất của đồ thị.

PTS_165

Lệnh Gradient Map
Phủ một lớp chuyển sắc lên hình ảnh được bắt theo độ đậm nhạt của hình. Vùng tối trong hình ảnh ánh xạ đến màu ở một đầu bên trái của mẫu tô, vùng sáng ánh xạ đến màu ở đầu bên phải của mẫu tô.

PTS_166
Đảo ngược màu thì kiểm chọn Reverse. Màu sắc tạo ra trông như âm bản vậy, bản thân tôi cũng không mấy thích thú với nó. =.=
Dĩ nhiên, bạn có thể thay đổi màu chuyển sắc tùy ý. Nhưng thực tế cũng không có nhiều ứng dụng dùng lệnh này.

Lệnh Selective Color
Hiệu chỉnh màu theo tông màu chọn.
PTS_167
– Chương trình sẽ cung cấp một số màu chọn trong mục Colors. Bạn muốn hiệu chỉnh tông nào thì chọn riêng tông đó; ở mỗi tông đều có thể tương tác 4 sắc Cyan – Magenta – Yellow – Black.
– Nếu bạn muốn tác động chính xác lên các điểm màu mang tông chọn cụ thể thì kiểm chọn Absolute. Còn nếu muốn tác động tới các điểm màu tương tự tông được chọn trên toàn ảnh thì kiểm chọn Relative.
– Ta có kết quả:

PTS_168

Lệnh Shadow / Highlight…
Giúp cải thiện chiều sâu của hình ảnh bằng cách hiệu chỉnh độ sáng / tối thích hợp dựa theo các pixel ở vùng phụ cận xung quanh vì thế Photoshop cho phép hiệu chỉnh các thông số thuộc tính của riêng biệt Shadow, Highlight và cả Adjustment.

PTS_169
– Kiểm chọn Show more options để hiển thị toàn bộ tùy chọn.
– Mỗi kênh Shadows và Highlights đều có những mức Amount (vùng phủ sáng / tối) và Tonal Width (mức độ sáng / tối) riêng. Sự ảnh hưởng của Radius là rất yếu, gần như bằng 0 cho dù có tăng hay giảm nên bạn có thể không cần điều chỉnh. Cái hay của lệnh này là bạn có thể điều chỉnh riêng cho vùng tối hoặc sáng hoặc cả hai mà không có sự pha trộn tự động không mong muốn nào (nếu đừng đụng tới Adjustments bên dưới).
– Tại mục Adjustments, bạn có thể chỉnh màu của kênh Color Correction hoặc chỉnh độ tương phản của vùng sáng trung bình Midtone Contrast (cái này nên để mặc định hoặc tăng lên chứ không nên giảm, độ rõ nét sẽ bị ảnh hưởng).
– Tăng / Giảm vùng ảnh hưởng tối tại Black Clip, vùng ảnh hưởng sáng tại White Clip.
– Cùng xem qua kết quả:

PTS_170
Tôi cố ý chọn hình ảnh thiếu sáng để minh họa, sau khi chỉnh, ảnh trở về mức sáng tối tự nhiên, không quá khoa trương, nhìn vào sẽ khó biết là có dùng Photoshop hay không. ^ ^


  • 2

Chỉnh màu cho ảnh với Image > Adjustments trong Photoshop CS6 (Phần 2)

Ngoài cách chọn truyền thống là vào menu Image > Adjustments.
Bạn có thể vào menu Window > Adjustments để mở và sử dụng trực tiếp palette này, nếu bạn thường xuyên tương tác với Adjustments thì palette này giúp bạn thao tác nhanh hơn.

PTS_158
Trong menu lệnh con của palette này có chế độ mặc định “Add Mask by default” tự động tạo cho bạn 1 lớp mặt nạ để không ảnh hưởng đến ảnh gốc.
Chúng ta tiếp tục khám phá Adjustment! ^ ^
Lệnh Brightness / Contrast và Lệnh Level (Ctrl + L) tôi đã nói trong bài Hiệu chỉnh sáng tối trong Photoshop CS6 (Phần 1)
Lệnh Curves (Ctrl + M) cũng đã được đề cập trong bài Hiệu chỉnh sáng tối trong Photoshop CS6 (Phần 2). Bạn có thể xem lại!

Lệnh Exposure
Exposure được thiết kế để hiệu chỉnh những hình ảnh dạng HDR (loại ảnh “siêu thực” có độ chênh lệch sáng tối rõ ràng, tự nhiên), nhưng nó chỉ làm việc với những hình ảnh 8 bit và 16 bit.
Đặc biệt hữu dụng trong việc điều chỉnh những mảng hình ghép sao cho độ sáng tối khớp với nhau để trông tự nhiên hơn, đại loại như hình dưới đây, được ghép từ khá nhiều ảnh:

PTS_153
Có vẻ như hơi sớm khi giới thiệu lệnh này với bạn vào bài này. Vì để chỉnh được như vậy còn kết hợp nhiều thao tác khác chứ không chỉ dùng mỗi lệnh Exposure. Nhưng không sao, trong bộ giáo trình Photoshop này, Homasg sẽ từng bước hướng dẫn cho bạn nhiều nhất có thể những chức năng của các công cụ để điều chỉnh ảnh theo ý muốn.
Trở lại với lệnh Exposure, chúng ta cùng tìm hiểu cửa sổ tùy chỉnh sau:

PTS_154
Bạn có thể sử dụng 3 công cụ hút màu Eyedropper Tool ở bên phải với 3 cấp độ: điểm tối (đen), trung bình (xám) và sáng (trắng). Chọn từng công cụ rồi click điểm màu tương ứng trên hình, chương trình sẽ tự động cân chỉnh cho bạn.
Chỉnh màu trực tiếp trên 3 thanh tùy chọn: Exposure (độ rực sáng, chỉnh cao quá thì những điểm sáng trên ảnh sẽ bị cháy sáng), Offset (bù màu, thông số > 0: ảnh như bị phủ 1 lớp trắng mờ, thông số < 0: màu sắc gom lại, đậm hơn), Gamma Correction (ngược lại với Offset, thông số > 1: màu tối đậm, còn < 1 thì bị phủ trắng).

Ta có kết quả:

PTS_152
Như bạn thấy, các thông số tôi đều tủy chỉnh lên/ xuống rất ít nhưng độ sáng của hình được tăng lên đáng kể.
Ngoài ra, mục Preset cũng cung cấp cho bạn 4 tùy chọn, nhưng bạn không cần nhớ vì cả 4 tùy chọn của nó đều chỉ tác động lên thanh Exposure quá đà, dễ làm hỏng bức ảnh.

 

Lệnh Black & White (Alt + Shift + Ctrl + B)
Chuyển ảnh màu sang ảnh trắng đen một cách tự nhiên mà vẫn bảo toàn được tất cả các tính năng điều khiển cho riêng từng tông màu.

PTS_144
Illustrator cung cấp cho bạn một vài tùy chọn trong Preset.
Kiểm chọn Tint khi bạn muốn nhuộm cho toàn hình ảnh 1 màu tùy ý (click chọn màu trong ô vuông màu kế bên và sau đó dễ dàng điều chỉnh lại trên Hue và Saturation).
Như trong minh họa dưới đây, ảnh bị thay đổi thành tông màu trông như cổ xưa.

PTS_145

Photo Filter
Giả lập kỹ thuật đưa bộ lọc màu vào trước ống kính camera để hiệu chỉnh mức độ cân bằng màu và nhiệt độ màu của đèn được truyền đến ống kính và chuyển thành phim hay hình ảnh. Lệnh Photo Filter còn cho phép chọn một màu sắc bất kỳ để cập nhật lên hình ảnh bằng cách sử dụng hộp màu color trong cửa sổ tùy chỉnh.

PTS_155
Nói nôm na, lệnh này phủ lên hình ảnh 1 lớp màu để trông lạnh hơn hoặc nóng hơn.
Chương trình cung cấp cho bạn một vài tùy chọn sẵn có trong mục Filter, hoặc bạn có thể chọn bất kỳ màu nào khác trong mục Color.
Tăng / giảm sắc độ phủ màu trong Density và bảo tồn nguồn sáng của ảnh bằng cách kiểm chọn Preserve Luminosity (nếu tắt chọn, hình ảnh của bạn sẽ bị tối).

Lệnh Channel Mixer
Trộn ba màu theo từng kênh đơn Red – Green – Blue lên hình ảnh.

PTS_156
Lệnh này giống như là đơn giản hóa của lệnh Curves (nhưng Curves có thêm kênh RGB). Thay vì điều chỉnh những đường cong khó chịu trên Curves thì thao tác kéo thanh trượt của Channel Mixer đơn giản hơn nhưng vẫn mạnh mẽ.
– 3 kênh chủ đạo Red, Green, Blue, ở mỗi kênh đều có thể chỉnh độ Red, Green, Blue riêng biệt. Bạn nên điều chỉnh ở cả 3 kênh để trộn màu như ý muốn.
– Constant bên dưới là mức độ của kênh.
– Preset cung cấp vài tùy chọn tương ứng với kiểm chọn Monochrome, biến ảnh màu thành ảnh đen trắng nhưng vẫn bảo toàn hệ màu ban đầu.
Cùng xem kết quả:
PTS_157
Tươi tắn như trong anime nhỉ?! ^ ^

Lệnh Color Lookup
Tạm thời đừng quan tâm đến nghĩa của từ Lookup, lệnh này cũng như hầu hết các lệnh khác trong Adjustments là dùng để hiệu chỉnh màu sắc.
Hồi trước tôi chưa từng nghe thầy cô giới thiệu lệnh này, tham khảo một số giáo trình khác cũng cảm thấy rất qua loa, thật đáng tiếc nếu bỏ qua một lệnh thú vị như thế này.
Sẵn đây, tôi cũng mượn lệnh này để giới thiệu với bạn vài thao tác trong palette Adjustment.
PTS_160
Chương trình cung cấp cho bạn 3 mục:
– 3DLUT file (loại hiệu ứng màu sắc thường dùng trong video và game), bạn có thể lấy màu từ những file có đuôi gốc *.CUBE trong máy nếu bạn có. (có thể download thêm trên mạng)
– Abstract: bạn có thể dùng một vài tùy chọn có sẵn hoặc download thêm trên mạng các đuôi gốc *.ICC, *.ICM (loại file này thường dùng trong chế bản).
– Device Link: giống như Abtract trên, chịu các đuôi gốc *.ICC, *.ICM.
Các hỗ trợ trên máy cũng khá đủ dùng rồi. Như trong minh họa dưới đây, tôi chỉ dùng tùy chọn Device Link với chế độ Gold-Blue thôi mà đã cho ra kết quả tốt thế này.

PTS_159
Tôi không muốn Gold_Blue nhuộm vàng bầu trời nên đã vào layer mặt nạ, dùng Brush che nhẹ một chút. Bạn có thể thấy những đường Brush đen trong review layer mặt nạ hình dưới đây.
Nếu muốn tùy chỉnh nhiều hơn cho mặt nạ của Adjustments, bạn có thể click vào icon Mask ngay bên cạnh phải của icon Color Lookup để mở ra 1 mặt khác của palette.

PTS_161
Tại đây, bạn được cung cấp một vài tùy chọn cho mặt nạ, như: chỉnh mức Density, độ nhòe biên Feather, hiệu ứng biên Mask Edge (trong Mask Edge, có chế độ View Mode > On White khá ấn tượng, trông cứ như sương mù tự nhiên vậy. ^ ^ bạn nên thử qua!). Bạn cũng có thể chỉnh lại màu sắc trong Color Range hoặc nghịch đảo vùng chọn làm mask trong Invert.


  • 0

Điều chỉnh màu sắc cho hình ảnh với Image > Adjustments trong Photoshop CS6 (Phần 1)

Nhóm Image > Adjustments gồm có 23 lệnh chức năng.
PTS_136Homasg sẽ giới thiệu hết tất cả các lệnh này, khá dài nên bài viết sẽ được chia ra làm nhiều phần cho bạn dễ nắm bắt và nhớ lâu hơn. ^ ^

Bắt đầu nhé!

Lệnh Color Balance (Ctrl + B)
Ÿ – Dùng để cân bằng màu sắc.
Ÿ – Thao tác : Rê các thanh trượt để cân bằng màu.
PTS_132
3 tone Shadows, Midtones, Highlights sẽ tác động lên màu sắc của những vùng tối, trung bình và sáng tương ứng trên ảnh cần chỉnh. Do đó, để độ cân bằng được tốt hơn, hình ảnh được tự nhiên hơn, bạn nên điều chỉnh cả 3 tone.
Kiểm chọn Preserve Luminosity (bảo toàn độ sáng) để các điều chỉnh không làm thay đổi độ sáng ban đầu của ảnh. Nếu bạn bỏ chọn, hình ảnh của bạn sẽ trông như được phủ thêm một lớp sáng mờ hoặc tối đậm.

PTS_131
Như hình trên, tôi đã chỉnh cho lá cây xanh hơn, nhưng chỉ lá cây thôi nhé, vì hình thân tháp chùa tôi sẽ dùng để giới thiệu công cụ tiếp theo ngay sau đây!

Lệnh Hue / Saturation (Ctrl + U)
Dùng để hiệu chỉnh sắc độ, độ bão hòa màu và mức độ sáng tối cho hình ảnh.
Illustrator cung cấp sẵn cho bạn một vài tone tùy chọn.
PTS_133
Như trong ví dụ dưới đây, tôi dùng Sepia.

PTS_135
Nhìn tươi tắn hơn hẳn nhỉ?!
Sepia mặc định của chương trình rất đậm nên tôi đã điều chỉnh thông số một chút ở cả 3 kênh Hue, Saturation và Lightness.

PTS_134
Tương tự, bạn có thể chọn những tone khác rồi điều chỉnh lại theo ý muốn.
Đừng kiểm chọn Colorize nếu bạn không muốn chương trình phủ lên hình ảnh của bạn 1 gam màu đơn sắc, sẽ rất khó điều chỉnh lại.
Biểu tượng PTS_138 mang 2 đặc tính khá hay.
– Đặc tính thứ nhất, tác động lên thanh bão hòa Saturation:
+ Bước 1: Click chọn icon PTS_138
+ Bước 2: Click chọn điểm màu muốn điều chỉnh trên ảnh (trong hình minh họa dưới đây, tôi chọn điểm màu xanh phổ biến trên hình), điểm màu bạn chọn sẽ được xác định trên 2 thanh điều hướng màu phía dưới hộp lệnh.
+ Bước 3: Drag chuột qua lại những vùng màu xanh khác trên vòm lá cây, bạn sẽ thấy thông số trên thanh Saturation thay đổi. Thông số này càng lớn thì vùng khuếch tán gam màu xanh lá trên thanh điều hướng màu bên dưới sẽ càng rộng ra. Những tán cây trong hình ảnh càng xanh hơn.
PTS_137
– Đặc tính thứ 2 là chỉ tác động lên thanh màu sắc Hue.
+ Bước 1: Click chọn icon PTS_138
+ Bước 2: Nhấn giữ Ctrl và click chọn điểm màu cần chỉnh trên ảnh (trong minh họa dười đây, tôi chọn điểm màu vàng của những cái lá cây bị nắng rọi vào).
+ Bước 3: Vẫn nhấn giữ phím Ctrl và drag chuột qua lại trên hình.
Rê chuột qua trái, thông số trên thanh Hue cũng nghiêng về phía bên trái (số âm)
Và ngược lại, rê chuột qua phải, thanh Hue nghiêng về phía bên phải (số dương)
Như trong hình dưới đây, tôi chọn màu vàng (là màu nằm giữa đỏ và xanh lá), nên grad chuột qua trái tức là nghiêng về phía sắc đỏ gần đó nhiều hơn. Những điểm màu vàng tương đồng trên hình bị nhiễm đỏ, trông như những bông hoa nhỏ hay lá ngả màu.

PTS_139
Những thao tác này chỉ ảnh hưởng đến những vùng mang màu sắc của điểm màu mà bạn đã chọn ở bước 2, chứ không hề gây ảnh hưởng đến những vùng khác như bầu trời, tháp chùa… Điều này giúp khoanh vùng ảnh hưởng khá tốt.
Đương nhiên là bạn có thể điều chỉnh 2 thanh còn lại : Lightness và Hue (Hoặc Saturation) để đạt được màu sắc như mong muốn.

Lệnh Vibrance
Hiệu chỉnh màu bằng cách cộng/ trừ dần từng màu, từng sắc độ sáng – tối.
Kéo cả 2 thanh Vibrance và Saturation về bên phải (số dương —> tăng màu): màu sắc trong ảnh đậm và tươi hơn.

PTS_140
Kéo cả 2 thanh về bên trái: ảnh màu có xu hướng bị chuyển thành ảnh trắng đen.

PTS_141


  • 2

Bộ lọc Filter Pixelate trong Photoshop CS6

Filter > Pixelate là bộ lọc có chức năng pixel hóa hình ảnh, nói nôm na là phân mảnh hình ảnh thành các điểm ảnh (pixel) đơn sắc một cách đơn giản (vì điểm ảnh để nguyên bản không phải là cái mà chúng ta có thể dễ dàng phân biệt bằng mắt thường ^ ^).

Pixelate có 7 bộ lọc con.

PTS_248

Để hiểu rõ hơn, ta bắt đầu phân tích ngay về chức năng của các bộ lọc con.

Filter > Pixelate > Color Halftone
Phân tích từ cái tên sẽ giúp bạn dễ nhớ hơn! ^ ^ Bạn đọc chữ “Halftone” như thế nào? Có phải là Half – tone (1 nửa tông màu – bán sắc), đúng không?! Cái tên đã nói chính xác chức năng của nó rồi đấy…

Như chúng ta đã biết, 1 điểm ảnh (pixel) được tạo nên từ sự pha trộn giữa ít nhất là 3 màu (theo hệ màu chuẩn R – G – B), sau này bên in ấn thì mở rộng thêm thành hệ 4 màu chuẩn CMYK, một số máy in phun thì mở rộng màu M thành Light Magenta và Dark Magenta, hoặc bên công nghệ màn hình thì mở rộng màu Y (Yellow) để tăng sáng… Bộ lọc Color Halftone này sẽ căn cứ vào độ rộng của pixel được trải ra (gọi là radius nhé), nó cộng tất cả các sắc độ của các pixel trong phạm vi phủ của radius, sau đó lấy số trung bình để thống nhất thành màu sắc của pixel kết quả sau cùng. (Lấy trung bình cộng thì cũng giống như lấy đi 1 nửa của các phần tử rồi cộng lại thôi, chính vì vậy nên nó mới là Halftone ^ ^)

Khi phóng to hình ảnh (đặc biệt là hình ảnh bị vỡ hạt), ta nhận thấy hình ảnh như được cấu tạo từ rất nhiều các hình vuông đơn sắc nhỏ, ta cũng quen miệng gọi nó là điểm ảnh (pixel). Nhưng thực tế trong các thiết bị phân tích “độ lệch” pixel thì các sắc độ của pixel được mô phỏng (thay thế) là hình tròn và Halftone cũng hoạt động như vậy.

Một điều thú vị nữa là: kích thước của hình tròn tỷ lệ nghịch với độ sáng của vùng hình ảnh tại đó. Chúng ta sẽ thấy trên hình ảnh sau khi áp Color Halftone sẽ gồm những hình tròn lớn ở vùng tối màu và hình tròn nhỏ ở vùng sáng màu.

Ta vào ví dụ áp dụng bộ lọc Color Halftone:

Hình ảnh ban đầu thế này (hình ảnh này sẽ sử dụng để minh họa cho tất cả các bộ lọc trong bài viết này):

hoasen3

 

Chọn hình ảnh, layer, hoặc khu vực cần áp hiệu ứng (ở đây tôi chọn layer toàn hình ảnh) > Filter > Pixelate > Color Halftone, xuất hiện cửa sổ tùy chọn như sau:

PTS_232

Thông số Max.Radius: phạm vi xét phủ màu của mỗi pixel kết quả (như tôi đã nói ở trên), dao động từ 4 đến 127 pixels.

Mục Screen Angles (degrees): chương trình cung cấp cho chúng ta 4 kênh.

Channel 1 – 2 – 3 – 4 tương ứng là kênh RGB – Red – Green – Blue (đối với ảnh thuộc hệ màu RGB), và tương ứng là kênh Cyan – Magenta – Yellow – Black (đối với ảnh thuộc hệ màu CMYK).

Đối với hình ảnh trắng đen (hệ Grayscale thuần túy), chỉ cần nhập thông số cho Channel 1, các kênh còn lại đều không có ảnh hưởng. Những hình ảnh thuộc hệ màu khác mới chuyển thành Black & White thì thông số cùa các Channel còn lại vẫn gây ảnh hưởng một chút, nhưng không đáng kể.

Thông số của cả 4 Channel đều dao động từ -360 đến 360.

Với thông số như minh họa trên, ta được kết quả:

PTS_233

Trông rối mắt nhỉ! Là do mỗi Channel có “độ lệch” khác nhau quá nhiều. Dĩ nhiên bạn có thể kết hợp các Channel để có được kết quả như mong muốn.

Ví dụ như trường hợp dưới đây, tôi triệt tiêu tất cả những Channel có khả năng tạo ra sắc Đỏ, đó là Channel 1 (RGB) và Channel 2 (Red) (hình hoa sen này thuộc hệ RGB), bằng cách đưa 2 kênh là xuống mức tối thiểu (-360) và tăng 2 kênh còn lại lên mức tối đa (360).

PTS_234
Ta được kết quả trông rõ ràng, sạch sẽ hơn:

PTS_235
Ta có thể rút ra được nhận xét:
– Tọa độ gốc tuyệt đối (360 hoặc -360) tạo ra pixel có các sắc độ đồng tâm.
– Mặc dù đã triệt tiêu khả năng tạo sắc đỏ nhưng trong hình ảnh kết quả vẫn còn tồn tại màu hồng (Magenta), chứng tỏ các thông số Channel chỉ điều chỉnh độ lệch sắc độ nhưng vẫn bảo toàn sắc độ chung của hình ảnh ban đầu.
Mỗi lần thay đổi thông số, ta lại có thêm 1 kết quả khác biệt, bạn hãy tự thao tác và rút ra nhận xét cho những trường hợp khác nhau nhé! ^ ^ Homasg rất chào đón những chia sẻ của bạn về kết quả thử nghiệm.

Bạn không thích các pixel có dạng tròn? Vậy thì chúng ta đến với bộ lọc tiếp theo…

Filter > Pixelate > Crystalize

Bộ lọc này phân mảnh hình ảnh thành những pixel có dạng đa giác (ngẫu nhiên) xếp khít (sát cạnh) nhau.

PTS_236
Bộ lọc này cấp cho chúng ta chế độ Review để dễ dàng dự tính trước cho kết quả.
Cell size (kích thước các ô pixel), dao động từ 3 đến 300. ­
Kết quả cho ra từ bộ lọc này khá đẹp và ấn tượng, có thể khai thác để tạo ra những background phong cách Polygonal. ^ ^

PTS_237

 

Filter > Pixelate > Facet

Trên lý thuyết, bộ lọc Facet tạo một lớp như các khối màu đặc. Bạn có thể sử dụng bộ lọc này để làm một hình ảnh trông như quét sơn bằng tay hoặc một bức tranh trừu tượng.
Và như tôi nói, đó chỉ là lý thuyết, thực tế thì bộ lọc này không cung cấp bất cứ tùy chọn nào và Homasg cũng không cảm nhận được sự thay đổi rõ rệt nào giữa trước và sau khi áp hiệu ứng. =.=

 

Filter > Pixelate > Fragment

Hình ảnh sau khi áp bộ lọc Fragment thì trông hơi mờ đục và tinh mịn, mục đích triệt tiêu độ sắc cạnh của các pixel.

Bộ lọc này không cung cấp bất cứ tùy chọn nào. Tuy nhiên, chúng ta có thể tăng mức độ mờ, mịn bằng cách bấm nhiều lần tổ hợp phím Ctrl + F.

 

Filter > Pixelate > Mezzotint

Trong các bài viết về Image > Adjustments, chúng ta đã gặp rất nhiều lần sắc độ quy về Shadows / Midtones / Highlights, cũng như các quy định về icon hút màu độ Black (maximum) / Gray (medium) / White (minimum) tương ứng. Đối với hình ảnh bitmap, máy tính không thể “gọi tên” hay phân tích cụ thể và chính xác từng màu như mắt người được, nên nó căn cứ vào độ sáng/ tối của màu sắc để phân loại.

Vì lẽ đó, cách hoạt động của bộ lọc Mezzotint là xem hình ảnh như một mảng trắng, những vùng tối sẽ xem như là màu đen, những vùng trung bình là xám, vùng sáng nhất là trắng. Sau đó sẽ áp ngẫu nhiên những điểm, hoặc đường thẳng ngẫu nhiên (mang màu sắc như phân tích trên) lên hình ảnh. Do ảnh hường bởi độ bão hòa của màu sắc mà các chi tiết được áp vào trông như các pixel bị kéo dài ra hoặc lệch đi làm hình ảnh bị đổ sọc hoặc đổ hạt.

Bộ lọc cung cấp cho ta những lựa chọn sẵn có, chứ không phải là những thông số linh hoạt.

PTS_249
Type: bộ lọc cung cấp cho ta 3 loại với 10 lựa chọn:
Loại Dots (điểm): gồm Fine Dots, Medium Dots, Grainy Dots và Coarse Dots với mức độ các điểm tăng dần. Các tùy chọn này cho kết quả giống như Add Noise.
PTS_238

Loại Lines (đường thẳng): gồm Short Lines, Medium Lines và Long Lines với mức độ các đường thẳng tăng dần.
PTS_239
Kết quả trông hơi quái nhỉ?! Nó tạo cảm giác cũ kĩ, phong trần nhưng không mờ nhạt. Sở dĩ không thể nhận ra điều này là do ảnh hưởng của màu ban đầu quá rực.
Nhưng như dưới đây thì sao?!

PTS_240
Vẻ cũ kĩ rõ hơn nhỉ?!
Đơn giản chỉ là nhân lên thành 1 layer khác, áp Image > Adjustments > Black & White, sau đó là áp Filter > Pixelate > Mezzotint.
Cho Opacity = 85%, độ hòa trộn Luminosity.

PTS_241
Là được kết quả như trên. ^ ^
Trở lại với cửa sổ tùy chọn của Mezzotint, loại Strokes: gồm Short Strokes, Medium Strokes và Long Strokes với mức độ các đường nét (thẳng) tăng dần. Kết quả cho ra cũng gần giống với loại Lines.

PTS_242
Hiệu ứng này tạo ra kết quả có thể không đẹp lắm nhưng Homasg nghĩ nó đủ để tạo nên những hình ảnh ấn tượng và khác biệt, quan trọng là cách chúng ta kết hợp các hiệu ứng lại với nhau.

 

Filter > Pixelate > Mosaic

Không phải tròn, cũng chẳng là đa giác, bộ lọc Mosaic phân mảng hình ảnh thành những hình vuông đơn sắc – như cách thông dụng mà chúng ta biết về pixel.

PTS_243

Tùy chọn rất đơn giản chỉ với 1 thông số Cell size (đơn vị tính: square), như hình trên tôi đặt là 68, tức là mỗi ô vuông pixel có kích thước 1 cạnh là 68px. Thông số này dao động từ 2 đến 200 square. Cách quy định màu sắc của pixel kết quả tương tự như Color Halftone.
Kết hợp với việc dùng add vector mask, dùng brush màu đen tại layer mask mà che đi phần hoa sen lớn chính giữa (giữ lại nền xung quanh)
PTS_244
Ta được kết quả rất tốt:

PTS_245

Dạo này trên facebook, tôi thấy các bạn rất hay sử dụng hiệu ứng này để hướng sự tập trung vào hình ảnh bản thân. ^ ^ Qua bài viết này, bạn có thể tự thực hiện hiệu ứng mà không cần phải thông qua ứng dụng trên smart phone với những tùy chỉnh hạn chế nữa.

 

Filter > Pixelate > Pointillize
Tương tự như cách hoạt động cua các bộ lọc trên, bộ lọc Pointillize phân mảng hình ảnh thành các điểm ngẫu nhiên, bắt dính cũng ngẫu nhiên tạo cảm giác như các điểm màu đang trôi nổi trên trang làm việc.

PTS_246
Tùy chọn có thông số Cell size dao động từ 3 đến 300.
Không quy định chặt chẽ về sắc độ như Color Halftone, không khít chặt và sắc cạnh như Mosaic hay Crystalize, các điểm ảnh trông khá tự do (nhưng không tùy tiện đâu nhé). Sở dĩ có những khoảng trống là do khu vực đó sáng trắng (hoặc cháy sáng) nên pixel không thể hiện. Có những khu vực các pixel bắt dính dày đặc là do tại đó là khu vực đậm màu.
Và kết quả thì khá thú vị:

PTS_247


  • 0

Bộ lọc Filter Noise trong Photoshop CS6

Filter > Noise là một nhóm các bộ lọc có chức năng chính là điều chỉnh các pixel trên hình ảnh bị hạt, tạo hạt hoặc khử hạt.

PTS_217A

 

Ta cùng phân tích chi tiết từng bộ lọc:
Filter > Noise > Add Noise
Bộ lọc Add Noise có chức năng tạo hạt cho hình ảnh, làm hình ảnh trông như tranh cát hoặc giả lập độ mịn, độ nét…
Add Noise hoạt động bằng cách áp các pixel ngẫu nhiên lên hình ảnh, dựa vào tông màu hiện hành của nhóm các pixel liền kề nhau. Nhưng thực tế hầu hết các trường hợp đều bị xỉn màu (bị ám đen) một chút.

PTS_217
Trong cửa sổ tùy chỉnh:
– Amount: mức độ “rải hạt”.
– Distribution:
+ Uniform: sự đồng nhất về kích thước và sự phân tán (khá đồng đều) của các hạt.
+ Gaussian: các hạt phân tán không đồng đều, cảm giác lốm đốm.
– Monochromatic: khi nút này được chọn, màu của các hạt sẽ quy về đơn sắc trắng / đen, không còn tuân theo tông màu chủ đạo nữa (khi thông số Amount càng lớn), nên độ ám đen cũng cao hơn.
Ứng dụng: Ngoài việc tạo hiệu ứng tranh cát. Add Noise còn dùng để tạo lỗ chân lông trên mặt, sau khi chúng ta đã dùng Surface Blur, sau đó lại dùng các chế độ hòa trộn màu blending mode để “hòa” các hạt vào hình gốc để trông thực hơn.
Một ứng dụng khác nữa, như đã hứa ở bài viết trước kia, Homasg sẽ hướng dẫn bạn cách tạo hiệu ứng mưa bằng Noise.
Ta có hình ảnh ban đầu thế này:

PTS_218
Dùng lệnh Image > Adjustments > Channel Mixer để đổi màu cho nó ám đen chút cho giống trời chuyển mưa.

PTS_219
Tạo layer mới nằm trên layer hình vừa chuyển màu, đổi Foreground và Background về mặc định đen / trắng. Rồi tô fill layer mới màu đen.

PTS_220
Vào Filter > Noise > Add Noise rồi xác lập thông số như hình dưới đây

PTS_221
Bạn có thể cho số Amount lớn nếu muốn tạo mưa lớn, dày hạt. ^ ^
Tiếp theo, áp hiệu ứng mờ bằng cách vào Filter > Blur > Gaussian Blur, thông số Radius không quá 1.0

PTS_222
Để giảm hạt mưa theo cách ngẫu nhiên để tự nhiên hơn, ta vào Image > Adjustments > Levels và xác lập như thông số dưới đây

PTS_223
Để điều chỉnh hướng mưa rơi, ta vào Filter > Blur > Motion Blur

PTS_224
Chỉnh hướng angle cho phù hợp. Độ Distance càng lớn, mưa càng mỏng.
Lúc này thì ta đã có một màn mưa khá tốt.
Chỉ cần đưa về chế độ hòa trộn blending mode = Screen là ta đã hoàn tất việc tạo hiệu ứng mưa cho ảnh.

PTS_231

Ta được kết quả:

PTS_225
Tương tự, ta có thể áp dụng cho hiệu ứng tuyết, tia lửa…

 

Filter > Noise > Despeckle
Bộ lọc Despeckle phát hiện phần bị hạt giữa các mảng khác màu giao nhau và làm mờ nó đi để giảm nhiễu hạt, nhưng vẫn giữa lại độ nét trung bình cho các chi tiết của tổng thể.
Do Despeckle không có bất cứ tùy chọn gì nên nó vô tình “bào nhẵn” luôn cả nền và viền của chi tiết (dù không nhiều).

 

Filter > Noise > Dust & Scratches
Dust & Scratches lọc giảm nhiễu hạt trực quan bằng cách thay đổi các điểm ảnh liền kề nhau bằng các điểm màu chiếm đa số trong mảng đó.
Ta bắt gặp sự tương đồng giữa lệnh này với Surface Blur, nhưng khẳng định là chúng không giống nhau nhé!

PTS_226
Trong hình minh họa trên, tôi tạm thời tắt chế độ Review để bạn có sự so sáh giữa hình nguyên bản và kết quả khi áp lệnh.
Vẫn là Radius : mức độ “làm nhẵn”. Nhưng ở Surface Blur, hình ảnh bị làm mờ một cách mịn màng, phần gần biên ảnh có xu hướng trở nên trong suốt khi độ radius và threshold quá cao. Còn Dust & Scratches thì bào nhẵn gắt và mạnh hơn (dù radius nhỏ) và hoàn toàn không có tình trạng trong suốt hóa.
Threshold : làm rõ nét. Threshold của Surface Blur nếu không chỉnh thì gần như có thể bảo toàn viền nhưng Threshold của Dust & Scratches nếu tăng lên thì lại gây loang màu, nhiễu hạt rất tệ.

 

 

Filter > Noise > Median
Bộ lọc Median gom các điểm ảnh có độ sáng và màu sắc tương đồng nhau thành từng mảng đồng nhất, giúp loại bỏ hoặc làm giảm sự xuất hiện của các điểm ảnh bị nhiễu hoặc những đốm màu không mong muốn. Nhưng nó sẽ gom gắt đến mức làm cho vùng chọn thu nhỏ lại, thậm chí tiêu biến luôn. =.=
Bạn quan sát nhé! Tôi tạo 1 vùng chọn trên hình và áp lệnh Median, trông nó bị mài nhẵn gần giống như Dust & Scratches.

PTS_227
Nhưng khi tôi tạo 1 layer khác chứa vùng chọn đó thì lúc áp lệnh Median với Radius cao, vùng chọn bị thu nhỏ lại. Bạn thử tăng lên nữa xem, hình ảnh sẽ biến mất. ^ ^

PTS_228
Lệnh này chỉ có tùy chỉnh Radius làm tăng mức độ lọc, như kết quả trình bày ở trên nên hãy chỉnh nhẹ tay thôi nhé! ^ ^
Nếu bỏ qua khuyết điểm phần biên bị bào mòn đi thì phần nền được lọc khá tốt, có thể dùng làm background cho một vài thiết kế khác.

 

Filter > Noise > Reduce Noise
Bộ lọc này hỗ trợ giảm nhiễu hạt màu sắc và nhiễu hạt độ sáng, với hệ thống điều chỉnh 2 tầng: Basic và Advanced.
Đầu tiên là tầng Basic:

PTS_229
– Settings: mặc định là Default, nếu bạn có một mẫu sao lưu thì nó sẽ xuất hiện ở đây.
– Strength (mức độ lọc) và Preserve Details (mức bảo toàn chi tiết) bạn có thể tăng hoặc giữ nguyên nhưng hầu như sẽ thấy nó không có gì thay đổi nếu không điều chỉnh 2 thông số dưới đây:
– Reduce Color Noise: mức giảm nhiễu hạt mảng màu. Có xu hướng đồng hóa toàn hình ảnh theo màu sắc chủ đạo, nên những chi tiết có màu rực (đỏ, xanh…), hay những điểm nhấn thì bị mất màu (nhạt màu) dần dần khi bạn tăng dần thông số này, và ngược lại, màu đậm dần (không nhiều) khi giảm thông số này.
– Sharpen Details: mức độ mài giũa các viền chi tiết cho sắc nét hơn. Nghe có vẻ hay nhỉ?! Nhưng nếu hình ảnh của bạn chất lượng ban đầu không cao, lại bị nhiễu hạt to quá thì khi tăng thông số này, các nét hình ảnh gần như bị pixel hóa, đậm hơn 1 cách mất tự nhiên, các hạt vỡ cũng thấy rõ ràng hơn. Cho nên, thông số này không nên > 75%.
– Nên kiểm chọn “Remove JPEG Artifact” vì nó sẽ kềm chế lệnh Sharpen Details, làm cho các mảng trông mượt hơn.

Ta sang tầng Advanced

PTS_230
Tầng này có 2 thẻ:
– Thẻ Overall: mọi thứ đều giống tầng Basic trên.
– Thẻ Per channel:
+ Channel:  nếu hình ảnh thuộc hệ màu CMYK hoặc Lab thì mục Channel này có 2 tùy chọn: Lightness, a (độ xám âm bản) và b (độ xám dương bản).
Nếu hình ảnh thuộc hệ RGB thì Channel cũng có 3 màu tương ứng: đỏ, xanh lá, xanh dương.
Còn nếu hình ảnh thuộc hệ Grayscale thì ngay từ đầu, bạn đã không có tùy chọn tầng Andvanced.
+ Ở mỗi tùy chọn màu trong Channel, bạn đều có thể tăng độ rực (thông số Strength) và mức bảo toàn chi tiết (Preserve Details) riêng, nhưng cũng như Homasg đã trình bày ở tầng Basic, 2 thông số này nếu có thì chỉ thay đổi rất nhẹ, thậm chí khó nhận biết.


  • 0

Hiệu chỉnh sáng – tối trong Photoshop CS6 (Phần 1)

Đây thuộc về nhiệm vụ của một vài lệnh trong menu Image > Adjustments
PTS_091
Lệnh Brightness / Contrast:
Hiệu chỉnh sắc độ sáng tối và cường độ tương phản trong hình ảnh.
Ví dụ: Tôi có 1 hình chụp từ điện thoại, trông thiếu sáng thế này:
PTS_095
Tôi chọn thông số như sau:
PTS_093

Brightness: số càng lớn thì càng sáng.
Contrast: số càng lớn thì những vùng tối càng “gom” lại, hình trông nét và đậm hơn.
Nhưng đừng quá tay nhé, nếu không thì bức ảnh của bạn sẽ bị cháy sáng và những chỗ tối sẽ bị nhiễu hạt.

Nếu kiểm chọn Use legacy, mặc định cả 2 thông số trên đều trở về 0, hình ảnh không có gì thay đổi =.= (giống như reset rồi làm lại).
Và ta có kết quả :

PTS_094

Lệnh Levels (Ctrl + L):
Dùng để chỉnh sửa khoảng tông và độ cân bằng màu của hình ảnh bằng cách điều chỉnh các mức cường độ của vùng tối, vùng giữa tông và vùng sáng trong ảnh.
Ví dụ: Tôi có hình đường ray thế này, (tạm thời đừng quan tâm đến độ phân giải của nó nhé!), nó trông hơi tối nhỉ?!

PTS_096
Ctrl + L, sẽ hiện ra cửa sổ con thế này:
PTS_097
Những điểm đỏ tôi chú thích là những điều bạn cần lưu ý. Và bây giờ tôi sẽ mách cho bạn biết cách đọc bảng này. Bạn thấy những cột sóng màu đen chứ? Chúng biểu hiện cho độ phân tán sáng / tối của bức ảnh. Cột sóng đổ dồn vào phía vùng tối bên trái —> bức ảnh thừa tối, thiếu sáng (và ngược lại…). Như trong ví dụ này, vùng sáng bên phải không có chút nhấp nhô nào thì nó đang thiếu trầm trọng đấy.
Bên nào thiếu thì kéo nó về hướng của bên thừa để cân bằng lại, như thế này:
PTS_098
Kết quả đây:

PTS_099
Mức trung bình (nút giữa): kéo về bên trái (vùng tối) thì vùng sáng sẽ sáng hơn, còn kéo về bên phải (vùng sáng) thì vùng tối của hình sẽ tối hơn. Vì hình chất lượng quá kém nên tôi không chỉnh mức trung bình để tránh nó không bị bể hạt và mờ (“bạc” màu) hơn. —> một kinh nghiệm nữa nhé! ^ ^
Kéo đến khi nào thì dừng lại (mức hợp lý)?

Theo lý thuyết, bạn cứ kéo đến khi nút sáng/ tối chạm vào điểm bắt đầu của phần trung bình trong dãy sóng nhấp nhô đó (như hình trên tôi đã làm). Hãy hình dung, dãy sóng nhấp nhô đó được chia làm 3 phần: tối – trung bình – sáng. Vùng nào thiếu thì cứ kéo đến mức cột sóng cao nhất trong vùng giới hạn của nó. Một hình có độ cân bằng sáng / tối tốt nhất là tất cả các vùng đều “nhấp nhô”, và độ chênh lệch giữa vùng sáng và vùng tối không quá lớn.
Thực tế còn tùy theo gu thẩm mỹ của bạn nữa, ^ ^ tôi thấy bây giờ một vài hình thiếu sáng cũng đang được ưa chuộng đó nhỉ?! Nhưng đừng nhầm lẫn giữa thiếu sáng và nghệ thuật trắng đen nhe!


  • 59

Adobe Photoshop CS6

Đây là bộ sưu tập Homasg tổng hợp từ những giáo trình trong trường học liên hệ với kinh nghiệm thực tế. Có thể không quá đầy đủ nhưng hi vọng giúp bạn tìm hiểu hoặc củng cố lại những điều cần lưu ý trong cách sử dụng phần mềm Adobe Photoshop CS6.

Tính đến thời điểm đăng bài này, phiên bản mới nhất của phần mềm Adobe Photoshop là phiên bản Photoshop CC (Creative Cloud) sau phiên bản CS6 và đặt dấu kết thúc dòng CS (Creative Suite), CC được Adobe ra mắt vào ngày 17/6/2013 tại hội nghị Adobe MAX ở Los Angeles, và bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ đầu năm 2014. Nhưng trong các bài hướng dẫn của blog này, tôi vẫn sử dụng phiên bản CS6 vì phiên bản này phổ biến hầu hết tất cả các trường đào tạo đồ họa và xưởng in tại Việt Nam, đem ra đó lỡ có sửa gì trên máy họ thì thao tác cũng dễ dàng, quen thuộc hơn. Mấy ông lớn cứ đua nhau update, mình là người dùng thì dùng cái nào quen tay là được, chưa kể đến vấn đề cấu hình máy tính khi update lên CC. May mắn là Photoshop thì không kén như Illustrator, phiên bản cũ mới gì cũng mở được hết.

Những tính năng căn bản trong các bài hướng dẫn vẫn áp dụng được cho các phiên bản cũ hơn (CS3 / 4 / 5) và cả CC mới kia (những thay đổi sẽ cập nhật sau).

Trước khi bắt đầu, bạn hãy download và cài đặt phần mềm Adobe Photoshop CS6 vào máy tính theo link này: http://sinhvienit.net/forum/adobe-photoshop-cs6-full-crack.208139.html

Danh sách bài hướng dẫn:

1. Giới thiệu Photoshop – tổng quan về loại hình ảnh.

2. Giao diện và chế độ xem ảnh trong Photoshop.

3. Quản lí file.

4. Làm việc với vùng chọn – Bộ công cụ Marquee.

5. Làm việc với vùng chọn – Bộ công cụ Lasso.

6. Các lệnh về vùng chọn – menu Select.

7.  Biến đổi đối tượng Transform.

8. Palette Layer.

9. Các thao tác với layer (Phần 1).

10.Các thao tác với layer (Phần 2).

11. Các thao tác với layer (Phần 3).

12. Công cụ Pen và nhóm lệnh về Path.

13. Nhóm công cụ Shape.

14. Tổng quan về các hệ màu.

15. Các công cụ tô màu.

16. Cọ Brush.

17. Các công cụ tô vẽ

18. Tạo mặt nạ Layer Mask.

19. Thao tác với mặt nạ và Quick Mask 

20. Các thao tac về Text.

21. Layer Style và thao tác hiệu ứng.

22. Hiệu chỉnh sáng – tối (Phần 1).

23. Hiệu chỉnh sáng – tối (Phần 2).

24. Các công cụ phục chế hình ảnh

25. Bộ công cụ nâng cấp hình ảnh.

26. Điều chỉnh màu sắc hình ảnh với Image > Adjustments (Phần 1).

27. Điều chỉnh màu sắc hình ảnh với Image > Adjustments (Phần 2).

28. Điều chỉnh màu sắc hình ảnh với Image > Adjustments (Phần 3).

29. Điều chỉnh màu sắc hình ảnh với Image > Adjustments (Phần 4).

30. Khái niệm Filter – Bộ lọc Blur (Phần 1)

31. Filter Blur (Phần 2)

32. Filter Blur (Phần 3)

33. Bộ lọc Filter > Distort (Phần 1).

34. Bộ lọc Filter > Distort (Phần 2)

35. Bộ lọc Filter > Noise.

36. Bộ lọc Filter > Pixelate.

37. Bộ lọc Filter > Render.

38. Bộ lọc Filter > Sharpen

39. Bộ lọc Filter > Stylize

40. Bộ lọc Filter > Other (Phần 1) > Custom và High Pass 

41. Bộ lọc Filter > Other (Phần 2) > Maximum, Minimum và Offset

42. Filter > Adaptive Wide Angle

43. Filter > Lens Correction

44. Filter > Liquify

45. Filter > Oil Paint

46. Filter > Vanishing Point

47. Menu 3D (Phần 1)

48. Menu 3D (Phần 2)

49. Menu 3D (Phần 3)