Author Archives: homasg

Bộ lọc Filter Vanishing Point trong Photoshop (Phần 1)

Vanishing Point là bộ lọc giúp đơn giản hoá việc chỉnh sửa những chi tiết được quy về mặt phẳng trong các hình phối cảnh (ví dụ như các mặt của tòa nhà, tường, sàn nhà hoặc bất kỳ đối tượng nào có thể quy về hình tứ giác – hình chữ nhật trong phối cảnh).

Nguyên tắc hoạt động của Vanishing Point: bạn phải chọn đúng giới hạn (giả lập) mặt phẳng của đối tượng cần tương tác, sau đó áp dụng các chỉnh sửa như vẽ, sao chép, dán và chuyển đổi. Tất cả các chỉnh sửa của bạn đều được tuân thủ theo các nguyên lý phối cảnh, điều này giúp tạo nên kết quả thực tế và logic hơn.

Trước khi đi vào phân tích, chúng ta cùng xem trước kết quả một chút…

Với những công cụ đã đề cập trong các bài trước, để có kết quả như vậy bạn có thể khoanh vùng chọn rồi Transform > Distort hoặc Perspective, để thực hơn chút nữa thì add Mask và dùng Brush quẹt quẹt điều chỉnh các vị trí nối cho tự nhiên hơn… Cách này hoàn toàn không sai. Chúng ta luôn luôn có hơn 1 cách để giải quyết vấn đề. Nhược điểm của cách này: dựng phối cảnh dựa trên cảm giác, trực giác là nhiều. Nhưng trong bài này, cụ thể sau khi đọc bài này, Homasg nghĩ sẽ có không ít bạn quên đi cách trên để ưu tiên dùng Vanishing Point. Chúng ta cùng phân tích để xem nó vận hành như thế nào…

Trước khi vào Filter > Vanishing Point (Alt + Ctrl + V), bạn nên nhân bản layer để các thao tác không ảnh hưởng đến ảnh gốc.

Hộp công cụ bên trái, lần lượt từ trên xuống dưới là:

  1. Edit Plane Tool (V): Chọn, chỉnh sửa, di chuyển, thay đổi kích thước các mặt phẳng giả lập.
  2. Create Plane Tool (C): Tạo, xác định 4 góc giới hạn của mặt phẳng, điều chỉnh kích thước và hình dạng của mặt phẳng.–> Xem 4 mặt phẳng mà Homasg đã tạo trên hình.
  3. Marquee Tool (M): Tạo các vùng chọn hình vuông hoặc hình chữ nhật trên mặt phẳng (đã được tạo giả lập bằng Create Plane Tool), di chuyển và xác lập vùng chọn tương ứng trên mặt phẳng mà ta di chuyển tới. Còn có: double-click để chọn toàn bộ mặt phẳng.
  4. Stamp Tool (S): tô đối tượng bằng mẫu tô (vùng được chọn) có sẵn trên chính hình ảnh đang tương tác.

Trước khi thao tác, ta cần thiết lập các thông số của công cụ này trên thanh đặc tính :

Từ trái qua phải lần lượt là:

  • Diameter: Kích thước đầu cọ, dao động từ 1 – 500.
  • Hardness: Độ cứng (sắc nét) hay mềm (tán mờ) của đầu cọ, dao động từ 0 – 100.
  • Opacity: độ mờ đục, dao động từ 0 – 100.
  • Heal: một dạng hòa trộn màu, có 3 chế độ:
    Off: ngăn chặn hòa trộn màu giữa mẫu tô với hình gốc.
    Luminance: làm bật tông (làm sáng) đường biên mẫu tô.
    On: cho phép hòa trộn màu với hình gốc.
  • Tick chọn Aligned nếu bạn muốn giữ mẫu tô này để tiếp tục áp lên những vùng khác.

—> Thao tác: Bấm Alt và click để chọn vùng làm mẫu tô (kích thước vùng tùy vào độ Diameter). Sau đó click sang vùng khác để áp mẫu tô lên. Hoặc bấm kèm Shift + click để áp mẫu tô đó một cách thẳng hàng lên vùng mặt phẳng­­­ cần tô. (Chi tiết sẽ được trình bày trong phần 2)

5. Brush Tool (B): tô lên hình ảnh bằng màu (đơn sắc) được chọn.

Các thông số như Stamp Tool, có thêm phần Brush Color để chọn màu.

Click + Drag chuột để tô. Giữ kèm Shift + click để quy về chế độ tô màu theo đường thẳng. Bạn cũng có thể bật Heal ở chế độ Luminance để hòa trộn màu tô với nền (hình gốc).

6. Transform Tool: Co dãn, xoay, di chuyển vùng chọn thả nổi, tương tự như Free Transform bên ngoài.

7. Eyedropper Tool (I): hút màu

8. Hand Tool (H): Click + drag chuột để đi tới vùng nhìn cần.

9. Zoom Tool (Z): Phóng to / thu nhỏ vùng nhìn.


Nguyên tắc đặt tên file

Một ngày không đẹp trời nào đó, bạn mở 1 file lên và thấy thông báo “Can’t open the xxxxxx file…” kèm dấu chéo đỏ chói mắt thì biết là có gì đó không đúng rồi ha.

Có  rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lỗi này, nhưng trong bài viết này, Homasg đề cập đến vấn đề đầu tiên bạn cần phải xem xét khi gặp báo lỗi như thế là: hãy kiểm tra cái tên file!!!

Khi đặt tên cho file (Illustrator, Photoshop hay bất cứ chương trình đồ họa nào) lúc khởi tạo file hay lúc Save as, hãy nhớ nguyên tắc 3 KHÔNG:

KHÔNG dùng kí tự đặc biệt (như ! @ # $ ~ % ^ & * + ( ) { } < > / ? \ ; , … )

KHÔNG dùng tiếng Việt có dấu (Homa rất yêu tiếng Việt nhưng trong trường hợp này thì tuyệt đối không nên dùng) và tiếng nước ngoài (ngoại trừ tiếng Anh).

KHÔNG đặt bất kì kí tự đặc biệt hay chữ số dư thừa nào phía trước hay phía  sau gốc mở rộng của file (ví dụ: xxxxx.ai- hay xxxxx.-ai hay xxxxx.aixx)

Nên đặt tên file đúng ngay từ đầu, vì việc chỉnh sửa tên không đúng cách sẽ làm ảnh hưởng khá lớn đến việc mở file, thậm chí làm hỏng file.

Trường hợp file của bạn vi phạm nguyên tắc đặt tên đã nêu trên mà vẫn mở được file, thì cũng đừng quá lạc quan, nên mở file và save as lại dưới dạng 1 cái tên hợp lệ mà máy tính chịu và bạn cũng dễ đọc dễ nhớ. Trường hợp “mở được” này không phải “hên xui” (Homa không thích lý do này, nó không logic), mà có khả năng là do tình trạng máy tính lúc tạo và lúc mở khác nhau, máy đã mã hóa được cái tên đó vì trước đó file đã được mở qua nhiều máy khác đồng dạng hoặc cao cấp hơn. Còn hầu hết trường hợp vi phạm nguyên tắc đặt tên đều không mở được file.  Bạn đừng đặt sai rồi xóa rồi sửa, đặt lại vài lần cho đúng, đến khi file hỏng rồi thì mới báo Homa biết thì Homa không cứu được file nhé!

Trường hợp máy của bạn dùng 1 ngôn ngữ khác tiếng Anh, bộ gõ cũng khác, ngôn ngữ hiển thị trong chương trình cũng khác, việc tạo và dùng file có tên với ngôn ngữ khác đó hoàn toàn ổn với máy của bạn thì không vấn đề gì, nhưng khi chia sẻ file đó để mở trên máy khác thì tôn trọng nguyên tắc chút nhé! Nếu việc dùng các kí tự alphabet khó khăn cho bàn phím và bộ gõ của bạn thì hãy cân nhắc việc đặt tên file với những con số.

Còn nhiều nguyên nhân khác dẫn đến “Can’t open…” Homasg sẽ đề cập vào các bài viết khác…


Bộ lọc Filter – Oil Paint trong Photoshop

Đơn giản mà khiến người xem yêu thích ngay. Bộ lọc Oil Paint (sơn dầu), đúng như tên gọi của nó, cho phép chuyển đổi hình ảnh về trạng thái trực quan của tranh sơn dầu cổ điển. Chỉ với một vài thao tác hết sức đơn giản ta có thể biến hình chụp đơn thuần thành bức tranh tinh tế như được vẽ bởi đại danh họa Vincent Van Gogh. ^ ^ (đây là cảm giác của Homasg khi lần đầu tiếp xúc với Oil Paint).

Ta có ảnh gốc thế này:

Vào Filter > chọn Oil Paint…

Sau khi trải qua những bài trước với cửa sổ tùy chọn phức tạp thì với Oil Paint bạn lại thấy: tất cả đều là thanh trượt 1 sự đơn giản như không thể dễ dàng hơn.

–     Mục Brush:

+ Stylization: phong cách “sơn dầu hóa” các nét, dao động từ 0 – 10; thông số càng lớn, “đường cọ” đi cũng càng lớn, mịn và xu hướng khác biệt càng xa so với hình gốc.

+ Cleanliness: điều chỉnh độ dài/ ngắn của từng “đường cọ”, dao động từ 0 – 10; thông số càng nhỏ, các nét của “đường cọ” càng ngắn, cảm giác các nét sâu và chi chit, ngược lại, số càng lớn thì cảm giác lỏng lẻo hơn.

+ Scale: điều chỉnh độ cong của “đường cọ” hoặc độ dày của sơn, dao động từ 0 – 10; thông số càng lớn, tạo cảm giác lớp sơn càng dày, giờ thì “các lớp sơn lấp lánh với hương vị Vincent van Gogh” (đến đây thì chính nhà sản xuất đã thừa nhận ^ ^)

+ Bristle Detail: điều chỉnh độ lõm, hay độ khắc sâu của “đường cọ”, mặc dù thông số cũng dao động từ 0 – 10 nhưng độ biến đổi nhẹ hơn nhiều so với các tùy chọn trên. Các nét (của những vùng đậm màu) như được khắc sâu hơn, tạo thành các rãnh.

–     Mục Lighting:

+ Angular Direction: điều chỉnh góc nghiêng của ánh sáng (chứ không phải là nét đường cọ), dao động từ 0, dao động từ 0 – 360 độ. Thiết lập này rất quan trọng nếu bạn kết hợp hình đang áp bộ lọc này vào một cảnh khác.

+ Shine: tùy chọn này thú vị đây… dùng để điều chỉnh độ sáng của nguồn sáng và lượng sơn bôi lên bề mặt tranh, dao động từ 0 – 10. Trên lý thuyết là vậy nhưng hiệu ứng khá mạnh. Thông số càng nhỏ, các đường cọ chi tiết bị tiêu giản đi; còn khi thông số càng lớn, các chi tiết gắt lại, sắc nét hơn.

* Homasg nói thêm về ghi chú của nhà sản xuất Adobe:

Nếu bộ lọc Oil Paint bị vô hiệu, hãy kiểm tra xem máy tính của bạn có hỗ trợ OpenCL v1.1 hoặc cao hơn không; và tận dụng khả năng hiển thị của card đồ họa hoặc tăng tốc GPU.

Hiện tại Homasg chưa từng thấy qua bộ lọc Oil Paint không hoạt động ở phiên bản CS6 trên máy tính có hoặc không tận dụng card đồ họa. Tuy nhiên điều này có thể xảy ra đối với những phiên bản CC sau này, khi nhà sản xuất gán GPU thành 1 trong những tùy chọn chính cho hiển thị.


Bộ lọc Filter > Liquify (Phần 2)

Trong phần 1, chúng ta đã tìm hiểu về các công cụ bên trái, bây giờ ta qua khu vực bên phải và tìm hiểu về các thông số tùy chọn:

Ở trạng thái bình thường:

Khi tick chọn Advanced Mode thì hiển thị đầy đủ tùy chọn hơn:

Advanced Mode là bao gồm luôn những tùy chọn của trạng thái thường nên Homasg sẽ phân tích trạng thái này.

–   Tool Option:

+ Brush size: kích thước đầu cọ, đặc tính như Brush thông thường : dùng phím ] để tăng và phím [ để giảm kích thước.

+ Brush Destiny: kiểm soát hiệu ứng ở vùng trung tâm và viền chu vi của cọ Brush. Hiệu ứng được nhấn mạnh ở trung tâm đầu cọ và khuếch tán nhẹ dần ra viền chu vi đầu cọ. Tuy nhiên, thông số này càng nhỏ, vùng viền càng ít chịu ảnh hưởng của hiệu ứng và ngược lại.

+ Brush Pressure: tốc độ thực hiện lệnh của đầu cọ. Dao động từ 1 đến 100, số càng lớn thì khi nhấn giữ chuột trái, độ biến dạng xảy ra càng nhanh, càng khó kiểm soát.

+ Brush Rate: Tốc độ áp đặt hiệu ứng. Thông số càng cao, tốc độ hiệu ứng biến chuyển càng nhanh và ngược lại. Nếu cần sự chính xác, tỉ mỉ thì không nên để thông số này > 50, sẽ khó kiểm soát.

+ Stylus Pressure: Độ chính xác hay tốc độ biến dạng sẽ tương ứng với lực nhấn của tay. Tùy chọn này chỉ khả dụng khi có kết nối với bút vẽ điện từ.

  • Reconstruct Options:

+ Reconstruct: quay trở lại với những trạng thái (đã điều chỉnh) trước đó. Số bước quay lại dao động từ 100 trở về 0 (0 là trạng thái ban đầu).

+ Restore All: khôi phục lại trạng thái ban đầu của hình ảnh.

  • Mask Options:

Homasg giải thích các icon từ trái qua phải:

+ Replace Selection: thay thế các vùng chọn.

+ Add To Selection: thêm vùng chọn, chẳng hạn ta có thể thêm vào vùng lựa chọn tại 1 trong 3 kênh là vùng đóng băng bằng công cụ Freeze Mask.

+ Subtract From Selection: trừ đi các điểm ảnh trong kênh khỏi khu vực đóng băng hiện tại.

+ Intersect With Selection: chỉ sử dụng các điểm ảnh trong vùng chọn và hiện đang đông lạnh.

+ Invert Selection: sử dụng các điểm ảnh đã chọn để đảo ngược với khu vực đóng băng hiện tại.

Homasg hay nhắc đến “kênh”, đó là: Selection (vùng đang chọn), Mask (vùng đóng băng/ tan băng) hoặc Transparency (có thể hiểu là vùng còn lại ngoài 2 vùng kia).

Các tùy chọn của Mask Options hiệu quả kể cả khi bạn có vùng chọn bên ngoài trước khi áp Liquify và vùng chọn đó phải khác hình chữ nhật.

  • 3 cái nút thần thánh:

None : làm tan tất cả các vùng đóng băng.

Mask All: loại bỏ tất cả vùng đóng băng.

Invert All: đảo các vùng đóng băng thành tan băng và ngược lại.

  • Mục View Options:

+ Show Image: tick chọn để xem trước kết quả.

+ Show Mesh: lưới chỉ dẫn. Chỉnh kích thước lưới trong Mesh Size và màu trong Mesh Color.

+ Show Mask: Hiển thị mặt nạ theo màu sắc chọn trong Mak Color. Cái này đặc biệt hữu dụng khi dùng để hiển thị vùng chọn đóng băng của Freeze Mask Tool.

+ Show Backdrop: Hiển thị phông nền.

++ Use: chọn layer hình chỉ định làm phông nền. Chương trình sẽ hiển thị tất cả các layer có trên trang đang làm việc.

++ Mode: có 3 chế độ: In front (phông nằm trên), Behind (phông nằm dưới), Blend (hóa trộn phông với layer hình đang làm Liquify)

++ Opacity: độ mờ cho phông.

Lưu ý: 3 tùy chọn con trong Show Backdrop chỉ tác động lên layer được chọn làm phông nền, không ảnh hưởng đến layer đang làm hiệu ứng Liquify.


Bộ lọc Filter > Liquify (Phần 1)

Nói đến kỹ xảo của Photoshop, nếu Filter là 1 tập hợp quyền lực nhất thì Liquify là 1 bộ lọc vô cùng quan trọng trong đó. Liquify cho phép chúng ta làm biến dạng các điểm ảnh mà không ảnh hưởng đến chất lượng của ảnh nguồn.

Mở 1 hình ảnh (ví dụ quả bí hồ lô mũm mĩm này), ta vào menu Filter > chọn Liquify (phím tắt là Shift + Ctrl + X) > cửa sổ tùy chỉnh hiện ra full thế này.

Chúng ta sẽ bắt đầu phân tích những công cụ được đánh dấu trong khung đỏ bên trái, theo thứ tự từ trên xuống dưới lần lượt như sau:

  • Forward Warp Tool (W): đẩy các pixel đi theo hướng drag chuột.

Giữ kèm phím Shift nếu bạn muốn đường drag tiếp theo sẽ nối tiếp với đường drag trước đó.

  • Reconstruct Tool (R): nhấn giữ chuột trái và click; hoặc drag chuột để đảo ngược những biến dạng mà bạn đã làm trước đó. Ví dụ: bạn dùng Forward Warp Tool làm 1 vùng pixel méo theo hướng từ trái qua phải thì dùng Reconstruct Tool này kéo trở lại từ phải về trái. Nhưng không có nghĩa là phục hồi về trạng thái ban đầu, không phải dạng Undo nhé.

Lệnh Undo trong này là Ctrl + Shift + Z.

  • Pucker Tool (S): nhấn giữ chuột trái và click; hoặc drag chuột để di chuyển các pixel xung quanh đầu cọ gom về phía trung tâm cọ. (Tôi dùng từ “đầu cọ” hay Brush trong này ý chỉ biểu tượng con chuột khi chọn công cụ – vòng tròn có dấu cộng bên trong, trung tâm của đầu cọ là hình dấu cộng đó)

 

  • Bloat Tool (B): trái ngược với Pucker, nhấn giữ chuột trái và click; hoặc drag chuột để di chuyển các pixel xung quanh đầu cọ tiến xa tâm cọ, tạo cảm giác giống bị sưng lên.

Như hình minh họa dưới đây, trái khổ qua phía trên như được “tăng cân” lên 1 chút:

Tương tự, kết hợp khéo léo tất cả công cụ trên, ta có thể “làm ốm” cấp tốc cho em bí đỏ hồ lô dưới đây:

Và em nó đã thực sự trở thành trái hồ lô. ^ ^

Nhẹ tay thôi nhé! Hãy tôn trọng tỷ lệ các chi tiết thực để hình ảnh không trở nên quá vô lí.

  • Push Left Tool (O): dùng để di chuyển pixel sang trái khi bạn drag công cụ lên thẳng (pixel di chuyển sang phải nếu bạn drag xuống). Drag xoay vòng theo chiều kim đồng hồ quanh một vùng pixel để tăng kích thước của nó, hoặc drag xoay ngược chiều kim đồng hồ để giảm kích thước của nó.

 

  • Hand Tool (H): drag chuột kéo thả để di chuyển đến vùng mình mong muốn.
  • Zoom Tool (Z): Phóng to hoặc thu nhỏ (khi giữ kèm phím Alt) vùng nhìn trên hình.

Góc dưới cùng bên trái của cửa sổ Liquify, số phần trăm đó là tỷ lệ thu/phóng vùng nhìn hiện tại, thường xuyên gặp nên không có gì lạ ha?!


Bộ lọc Filter > Lens Correction trong Photoshop CS6 (Phần 2)

Tiếp theo phần 1, chúng ta bắt đầu phân tích chi tiết các thông sốtùy chọn.

Bên phải cửa sổ tùy chọn có 2 thẻ: Auto Correction và Custom.

Trong thẻ Auto Correction:

  • Correction: có 3 tùy chọn con: Geometric Distortion, Chromatic AberrationVignette chỉ hiển thị khi có thay đổi trong mục Search Criteria bên dưới và không phải dòng Camera nào nó cũng cho phép thay đổi kiểm chọn (thường thì Camera make loại Hasselblad sẽ không cho tùy chỉnh mục này). Chúng ta sẽ tìm hiểu nó trong thẻ Custom.
  • Auto Scale Image: quan trọng nhé, có liên qua đến việc hiệu chỉnh trong thẻ Custom. Tick chọn mục này nếu bạn không muốn những thay đổi bên dưới làm biến dạng biên hình ảnh quá nhiều.
  • Edge: Khi bạn thay đổi dòng Camera, hình sẽ bị co giãn, mục Edge này là cách bạn chọn để chương trình bù vào phần biên khi bị biến dạng. Trên cơ bản là có 4 loại: Edge Extension (kéo dài các pixels vùng biên), Transparency (vùng trong suốt), Black Color (màu đen, nhưng thường là vùng tối màu), White Color (vùng sáng màu). Nhìn chung giữa 4 loại không khác biệt gì nhiều vì còn tùy thuộc vào dòng camera.
  • Mục Search Criteria:

Bạn có thể chọn 1 trong 12 hiệu máy chụp hình mà Photoshop CS6 hỗ trợ trong phần Camera Make. Tương ứng với hiệu máy đã chọn, ta có các dòng máy (Camera Model) và các kích cỡ ống kính (Lens Model). Tuy nhiên, việc thay đổi trong mục này không làm thay đổi thông tin về máy chụp hình của ảnh gốc (trạng thái ban đầu).

  • Lens Profiles: Cấu hình ống kính phù hợp với các tiêu chí đã chọn trên Search Criteria. Một số dòng máy có khá nhiều ống kính phù hợp, một số trong này lại cho độ biến dạng rất cao. Click chuột phải vào tên các loại ống kính sẽ xuất hiện các kích cỡ Zoom tương ứng. Nếu bạn không tìm thấy loại ống kính mình thích, có thể click vào Search Online và lấy các mẫu mà các nhiếp ảnh gia khác đã up lên và có thể lưu lại để dùng sau này. Trên lý thuyết là vậy, thực tế thì không phải dòng máy nào cũng có người up lên, nhiêu đây thôi cũng đủ để ta nghiền ngẫm đền mỏi mắt rồi.

 

Ta sang thẻ Custom:

  • Settings: mặc định trạng thái ban đầu là “Default Correction”, nếu có bất kì thay đổi nào về các giá trị bên dưới thì tự động chuyển sang “Custom”, muốn trở lại thông số thay đổi trước đó thì chọn “Previous Correction”.

 

  • Geometric Distortion: tạo hiệu ứng fisheye. Thanh trượt Remove Distortion hoạt động như Remove Distortion Tool (D), có thể hiệu chỉnh thông số chính xác hơn.

Thanh trượt Remove Distortion dao động từ -100 đến +100. Càng di chuyển về bên trái (âm), hiệu ứng fisheye càng được khuếch trương, hình ảnh bị giãn từ tâm. Ngược lại, kéo về bên phải, hình ảnh bị gom lại, nếu quá tay có thể làm cong đường biên.

  • Chromatic Aberration: hạn chế độ sai lệch màu biên. Chương trình hào phóng cấp cho chúng ta 3 kênh Fix Fringe nhưng… không tạo ra thay đổi gì nhiều. =.=

 

  • Vignette: hiệu chỉnh sáng/ tối vùng biên và gần biên.

Amount: tác động đến vùng biên ngoài cùng, có thông số dao động từ -100 đến +100, kéo về bên trái mang số âm thì tối hơn (darken), kéo về bên phải mang số dương thì sáng hơn (lighten).

Midpoint: tác động đến vùng trung gian gần biên, có thông số dao động từ 0 đến 100. Mặc định là 50. Thanh trượt càng tiến về 0 thì cáng sáng, càng tiến về 100 thì càng tối nhưng sắc độ không vượt quá Amount.

  • Transform:

+ Vertical Perspective: Tạo chiều sâu cho hình theo kiểu thu nhỏ dần từ cạnh trên xuống cạnh dưới (kéo thanh trượt về bên trái) hoặc phóng to từ dưới lên trên (kéo thanh trượt về bên phải). Thông số dao động từ -100 đến +100.

+ Horizontal Perspective: Tạo chiều sâu cho hình theo kiểu thu nhỏ dần từ cạnh phải sang cạnh trái (kéo thanh trượt về bên trái) hoặc thu nhỏ từ trái sang phải (kéo thanh trượt về bên phải). Thông số dao động từ -100 đến +100.

+ Nếu bạn cảm thấy không thoải mái khi dùng Straighten Tool thì có thể dùng Angle (xoay) và Scale (thu/phóng) tại mục này, vừa chính xác, lại dễ dàng thay đổi hơn.

Scale cho phép thu nhỏ lại tối thiểu là 50% là phóng to tối đa 150%. Giới hạn này là dành cho hiển thị kết quả thực. Còn độ thu phóng vùng nhìn vẫn tuân theo tiêu chuẩn của Photoshop: maximum = 1600%.

Bộ lọc Lens Correction chỉ làm việc với hình ảnh 8 bit và 16 bit .

Bạn có thể sửa nhiều ảnh cùng một lúc với lệnh tự động Lens Correction. Chọn File→Automate→Lens Correction.


Bộ lọc Filter > Lens Correction trong Photoshop CS6 (Phần 1)

Filter > Lens Correction là một bộ lọc giúp ta sửa chữa những biến dạng do ống kính máy ảnh, trên lý thuyết là như vậy, chức năng của nó nhìn qua có vẻ giống Adaptive Wide Angle (cũng sửa lỗi chụp do ống kính) nhưng thế mạnh của nó nghiêng về giả lập hiệu ứng giống ống kính máy ảnh.

Để minh họa bài biết, tôi đã download 1 hình ảnh ngẫu nhiên trên mạng và vào Filter > Lens Correction:

Chúng ta cùng phân tích. Bắt đầu từ dãy công cụ phía bên trái bảng tùy chọn, theo thứ tự từ trên xuống dưới:

  • Remove Distortion Tool (D): giả lập hiệu ứng Fisheye.

Drad chuột trên hình theo hướng từ tâm (hoặc gần tâm) ra phía ngoài (trên dưới trái phải gì đều được), ta có kết quả: hiệu ứng Fisheye bị khuếch trương:

Công cụ này áp dụng bình thường đối với những hình ảnh bình thường khi ta cố tình làm cho nó trông như bị Fisheye như dưới đây:

  • Straighten Tool (A): kết hợp xoay và zoom.

Drag chuột trên hình. Nếu đường drag của bạn là 1 đường xiên, hình ảnh sẽ bị xoay theo hướng ngược lại.

Và tùy theo độ dài của đường drag thì hình ảnh sẽ được zoom tương ứng, drag kéo càng dài, zoom càng to và ngược lại.

Drag từ tâm ra bên phải : phóng to.

Drag từ tâm về bên trái : thu nhỏ.

Trong bảng tùy chọn này ta không thể sử dụng lệnh Undo (Ctrl + Z) nên có thể dựa vào tính chất trên, drag chuột nhiều lần để điều chỉnh theo ý muốn.

  • Move Grid Tool (M): căng lưới Grid để tiện ước lượng trên hình.

Drag chuột để di chuyển lưới

Điều chỉnh lưới bằng các tùy chọn bên dưới, kế bên khu vực thông tin máy ảnh.

Tick chọn Show Grid để xuất hiện lưới, sau đó thì ta có thể đổi màu lưới tại ô Color, và thay đổi kích thước các ô lưới trong Size.

  • Hand Tool (H): di chuyển đến vùng mình mong muốn
  • Zoom Tool (Z): Phóng to hoặc thu nhỏ vùng nhìn trên hình.

Filter Adaptive Wide Angle trong Photoshop CS6

Khi chụp hình bằng máy ảnh chuyên nghiệp với các loại ống kính hỗ trợ chụp góc nhìn rộng (wide lens) ít nhiều gì cũng khó tránh khỏi tình trạng bị cong “mắt cá” (full frame fisheye), đặc biệt thường xảy ra với những bức tranh chụp quang cảnh, công trình kiến trúc… Bộ lọc Adaptive Wide Angle sẽ giúp bạn khắc phục tình trạng này.

Ví dụ tôi có ảnh nguồn như thế này:

Ta chọn layer hình ảnh này > Vào Filter > Adaptive Wide Angle > một cửa sổ tùy chỉnh mở ra.

Chúng ta bắt đầu phân tích từ thanh công cụ bên trái, theo thứ tự từ trên xuống dưới:

Đầu tiên là Constraint Tool (C): công cụ này giúp bạn “bẻ” thẳng những chi tiết bị cong. Cách dùng: bạn click chọn điểm đầu và cuối tương ứng với chi tiết bị cong, đồng thời drag chuột tạo thành 1 đường path ôm theo đoạn cong đó để bộ lọc xác định được đối tượng cần bẻ thẳng. Đường path điều chỉnh được biểu thị màu xanh trong hình dưới đây:

Nếu trong quá trình drag chuột, bạn click chọn sai điểm thì có thể giữ phím Alt và click vào điểm mà bạn cho là bị sai để loại bỏ nó.

Drag chuột tại điểm để di chuyển hoặc điều chỉnh độ dài/ ngắn của đường path.

Để chỉnh 1 hình bị Fisheye, ta thường tạo khá nhiều đường path, ví dụ như thế này:

Và đây là kết quả sau khi “bẻ” thẳng các chi tiết bị cong, ngay ngắn hơn nhiều rồi. ^ ^

(Hình sau khi sử dụng Adaptive Wide Angle bị “thiếu trên hụt dưới” khá nhiều nên phải dùng kết hợp vài thủ thật để đắp vá lên như Mask, Content-Aware Move Tool, Liquify (cái này tôi sẽ nói vào bài viết khác)… và còn chỉnh độ sáng chênh lệch giữa các mảng đắp vào, cả một quy trình không mấy dễ chịu nhỉ?! ^ ^ Nhưng chỉ cần bạn nắm rõ những bài trước thì không khó khăn gì đâu, còn rất thú vị nữa…)

Tiếp theo, công cụ Polygon Constraint Tool (Y): nếu Constraint Tool chỉ cần vẽ 1 đường để hiệu chỉnh chi tiết bị cong thì với Polygon Constraint Tool này, bạn phải vẽ 1 đường path kín bao quanh chi tiết hoặc vùng cần hiệu chỉnh. Vẫn dùng Alt để xóa điểm. Ở phiên bản CS6, tôi cảm thấy không dễ thao tác với nó và hiệu quả đem lại cũng không cao so với phiên bản CC, nên bạn có thể chỉ cần khéo léo dùng Constraint Tool là đã khắc phục được tình trạng Fisheye.

3 công cụ còn lại sử dụng như công cụ cơ bản ngoài giao diện chính của Photoshop, cụ thể là:

Move Tool (M): di chuyển hình ảnh

Hand Tool (H) : “bò” tới vùng cần quan sát, áp dụng khi hình ảnh đang được phóng to.

Zoom Tool (Z): phóng to cả hình ảnh hoặc 1 vùng cụ thể. Có thể sử dụng phím tắt Alt để chuyển đổi giữa Zoom In và Zoom Out; Ctrl + phím dấu (+) để phóng to và Ctrl + phím dấu (-) để thu nhỏ.

 

Ta qua phân tích bộ tùy chọn bên phải:

– Correction (chế độ điều chỉnh): Photoshop CS6 cung cấp cho chúng ta 4 chế độ điều chỉnh:

  • Fisheye và Perspective (2 chế độ này đều có đủ 3 thông số tùy chọn: Scale, Focal Length, Crop Factor)
  • Auto (chỉ có tùy chọn Scale)
  • Full Spherical (chỉ có tùy chọn Scale): chế độ này chỉ áp dụng cho những ảnh chụp dạng Panorama 360 như hình dưới này

Scale : độ thu/ phóng hình ảnh, dao động từ 50 ~ 150%.

Focal Length: nghĩa gốc là “độ dài tiêu cự”, tức là khoảng cách từ giữa ống kính với trung tâm của cảm biến.

Để hiểu thêm về thông số này, Homasg muốn bạn nhìn lại hình minh họa thao tác bên trên, phần dưới cùng bên trái của cửa sổ điều chỉnh Adaptive Wide Angle có hiển thị thông tin của máy ảnh đã chụp hình này (thông tin chẳng hạn như Camera Model, Lens Model…, tôi tạm gọi chung là profile của máy ảnh). Và không phải bất cứ hình ảnh nào cũng hiển thị thông tin này. Khi vừa mở cửa sổ bộ lọc, chọn Correction là Fisheye, Scale = 100% thì thông số Focal Length lúc này là chuẩn nhất với tình trạng máy ảnh lúc chụp ảnh đang tương tác. Bạn có thể thay đổi nó. Tuy nhiên, Focal Lenght càng ngắn, góc nhìn càng rộng và ngược lại, Focal Lenght càng dài, góc nhìn càng hẹp.

Crop Factor: một dạng đóng khung hay xén hình. Tương tự như Focal Length, thông số Crop Factor này cũng chịu ảnh hưởng bởi profile của máy ảnh. Crop Factor thay đổi sẽ kéo theo Focal Length thay đổi. Khi bạn giảm quá giới hạn (thường là cả Focal Length và Crop Factor cùng nhỏ hơn mức trung bình), hình ảnh sẽ bị xén thành hình tròn (đôi khi có răng cưa ở viền).

As Shot: gần giống như Default cho hình ảnh. khi bạn muốn khôi phục lại nguyên dạng các thông số trên về lại bản chất ban đầu của hình ảnh đang tương tác, hãy tick chọn As Shot. Khi có bất cứ thay đổi nào về các thông số trên, chương trình tự động bỏ chọn As Shot.


error: Content is protected !!