Bộ lọc Filter > Liquify (Phần 1)

  • 0

Bộ lọc Filter > Liquify (Phần 1)

Nói đến kỹ xảo của Photoshop, nếu Filter là 1 tập hợp quyền lực nhất thì Liquify là 1 bộ lọc vô cùng quan trọng trong đó. Liquify cho phép chúng ta làm biến dạng các điểm ảnh mà không ảnh hưởng đến chất lượng của ảnh nguồn.

Mở 1 hình ảnh (ví dụ quả bí hồ lô mũm mĩm này), ta vào menu Filter > chọn Liquify (phím tắt là Shift + Ctrl + X) > cửa sổ tùy chỉnh hiện ra full thế này.

Chúng ta sẽ bắt đầu phân tích những công cụ được đánh dấu trong khung đỏ bên trái, theo thứ tự từ trên xuống dưới lần lượt như sau:

  • Forward Warp Tool (W): đẩy các pixel đi theo hướng drag chuột.

Giữ kèm phím Shift nếu bạn muốn đường drag tiếp theo sẽ nối tiếp với đường drag trước đó.

  • Reconstruct Tool (R): nhấn giữ chuột trái và click; hoặc drag chuột để đảo ngược những biến dạng mà bạn đã làm trước đó. Ví dụ: bạn dùng Forward Warp Tool làm 1 vùng pixel méo theo hướng từ trái qua phải thì dùng Reconstruct Tool này kéo trở lại từ phải về trái. Nhưng không có nghĩa là phục hồi về trạng thái ban đầu, không phải dạng Undo nhé.

Lệnh Undo trong này là Ctrl + Shift + Z.

  • Pucker Tool (S): nhấn giữ chuột trái và click; hoặc drag chuột để di chuyển các pixel xung quanh đầu cọ gom về phía trung tâm cọ. (Tôi dùng từ “đầu cọ” hay Brush trong này ý chỉ biểu tượng con chuột khi chọn công cụ – vòng tròn có dấu cộng bên trong, trung tâm của đầu cọ là hình dấu cộng đó)

 

  • Bloat Tool (B): trái ngược với Pucker, nhấn giữ chuột trái và click; hoặc drag chuột để di chuyển các pixel xung quanh đầu cọ tiến xa tâm cọ, tạo cảm giác giống bị sưng lên.

Như hình minh họa dưới đây, trái khổ qua phía trên như được “tăng cân” lên 1 chút:

Tương tự, kết hợp khéo léo tất cả công cụ trên, ta có thể “làm ốm” cấp tốc cho em bí đỏ hồ lô dưới đây:

Và em nó đã thực sự trở thành trái hồ lô. ^ ^

Nhẹ tay thôi nhé! Hãy tôn trọng tỷ lệ các chi tiết thực để hình ảnh không trở nên quá vô lí.

  • Push Left Tool (O): dùng để di chuyển pixel sang trái khi bạn drag công cụ lên thẳng (pixel di chuyển sang phải nếu bạn drag xuống). Drag xoay vòng theo chiều kim đồng hồ quanh một vùng pixel để tăng kích thước của nó, hoặc drag xoay ngược chiều kim đồng hồ để giảm kích thước của nó.

 

  • Hand Tool (H): drag chuột kéo thả để di chuyển đến vùng mình mong muốn.
  • Zoom Tool (Z): Phóng to hoặc thu nhỏ (khi giữ kèm phím Alt) vùng nhìn trên hình.

Góc dưới cùng bên trái của cửa sổ Liquify, số phần trăm đó là tỷ lệ thu/phóng vùng nhìn hiện tại, thường xuyên gặp nên không có gì lạ ha?!


  • 0

Filter Adaptive Wide Angle trong Photoshop CS6

Khi chụp hình bằng máy ảnh chuyên nghiệp với các loại ống kính hỗ trợ chụp góc nhìn rộng (wide lens) ít nhiều gì cũng khó tránh khỏi tình trạng bị cong “mắt cá” (full frame fisheye), đặc biệt thường xảy ra với những bức tranh chụp quang cảnh, công trình kiến trúc… Bộ lọc Adaptive Wide Angle sẽ giúp bạn khắc phục tình trạng này.

Ví dụ tôi có ảnh nguồn như thế này:

Ta chọn layer hình ảnh này > Vào Filter > Adaptive Wide Angle > một cửa sổ tùy chỉnh mở ra.

Chúng ta bắt đầu phân tích từ thanh công cụ bên trái, theo thứ tự từ trên xuống dưới:

Đầu tiên là Constraint Tool (C): công cụ này giúp bạn “bẻ” thẳng những chi tiết bị cong. Cách dùng: bạn click chọn điểm đầu và cuối tương ứng với chi tiết bị cong, đồng thời drag chuột tạo thành 1 đường path ôm theo đoạn cong đó để bộ lọc xác định được đối tượng cần bẻ thẳng. Đường path điều chỉnh được biểu thị màu xanh trong hình dưới đây:

Nếu trong quá trình drag chuột, bạn click chọn sai điểm thì có thể giữ phím Alt và click vào điểm mà bạn cho là bị sai để loại bỏ nó.

Drag chuột tại điểm để di chuyển hoặc điều chỉnh độ dài/ ngắn của đường path.

Để chỉnh 1 hình bị Fisheye, ta thường tạo khá nhiều đường path, ví dụ như thế này:

Và đây là kết quả sau khi “bẻ” thẳng các chi tiết bị cong, ngay ngắn hơn nhiều rồi. ^ ^

(Hình sau khi sử dụng Adaptive Wide Angle bị “thiếu trên hụt dưới” khá nhiều nên phải dùng kết hợp vài thủ thật để đắp vá lên như Mask, Content-Aware Move Tool, Liquify (cái này tôi sẽ nói vào bài viết khác)… và còn chỉnh độ sáng chênh lệch giữa các mảng đắp vào, cả một quy trình không mấy dễ chịu nhỉ?! ^ ^ Nhưng chỉ cần bạn nắm rõ những bài trước thì không khó khăn gì đâu, còn rất thú vị nữa…)

Tiếp theo, công cụ Polygon Constraint Tool (Y): nếu Constraint Tool chỉ cần vẽ 1 đường để hiệu chỉnh chi tiết bị cong thì với Polygon Constraint Tool này, bạn phải vẽ 1 đường path kín bao quanh chi tiết hoặc vùng cần hiệu chỉnh. Vẫn dùng Alt để xóa điểm. Ở phiên bản CS6, tôi cảm thấy không dễ thao tác với nó và hiệu quả đem lại cũng không cao so với phiên bản CC, nên bạn có thể chỉ cần khéo léo dùng Constraint Tool là đã khắc phục được tình trạng Fisheye.

3 công cụ còn lại sử dụng như công cụ cơ bản ngoài giao diện chính của Photoshop, cụ thể là:

Move Tool (M): di chuyển hình ảnh

Hand Tool (H) : “bò” tới vùng cần quan sát, áp dụng khi hình ảnh đang được phóng to.

Zoom Tool (Z): phóng to cả hình ảnh hoặc 1 vùng cụ thể. Có thể sử dụng phím tắt Alt để chuyển đổi giữa Zoom In và Zoom Out; Ctrl + phím dấu (+) để phóng to và Ctrl + phím dấu (-) để thu nhỏ.

 

Ta qua phân tích bộ tùy chọn bên phải:

– Correction (chế độ điều chỉnh): Photoshop CS6 cung cấp cho chúng ta 4 chế độ điều chỉnh:

  • Fisheye và Perspective (2 chế độ này đều có đủ 3 thông số tùy chọn: Scale, Focal Length, Crop Factor)
  • Auto (chỉ có tùy chọn Scale)
  • Full Spherical (chỉ có tùy chọn Scale): chế độ này chỉ áp dụng cho những ảnh chụp dạng Panorama 360 như hình dưới này

Scale : độ thu/ phóng hình ảnh, dao động từ 50 ~ 150%.

Focal Length: nghĩa gốc là “độ dài tiêu cự”, tức là khoảng cách từ giữa ống kính với trung tâm của cảm biến.

Để hiểu thêm về thông số này, Homasg muốn bạn nhìn lại hình minh họa thao tác bên trên, phần dưới cùng bên trái của cửa sổ điều chỉnh Adaptive Wide Angle có hiển thị thông tin của máy ảnh đã chụp hình này (thông tin chẳng hạn như Camera Model, Lens Model…, tôi tạm gọi chung là profile của máy ảnh). Và không phải bất cứ hình ảnh nào cũng hiển thị thông tin này. Khi vừa mở cửa sổ bộ lọc, chọn Correction là Fisheye, Scale = 100% thì thông số Focal Length lúc này là chuẩn nhất với tình trạng máy ảnh lúc chụp ảnh đang tương tác. Bạn có thể thay đổi nó. Tuy nhiên, Focal Lenght càng ngắn, góc nhìn càng rộng và ngược lại, Focal Lenght càng dài, góc nhìn càng hẹp.

Crop Factor: một dạng đóng khung hay xén hình. Tương tự như Focal Length, thông số Crop Factor này cũng chịu ảnh hưởng bởi profile của máy ảnh. Crop Factor thay đổi sẽ kéo theo Focal Length thay đổi. Khi bạn giảm quá giới hạn (thường là cả Focal Length và Crop Factor cùng nhỏ hơn mức trung bình), hình ảnh sẽ bị xén thành hình tròn (đôi khi có răng cưa ở viền).

As Shot: gần giống như Default cho hình ảnh. khi bạn muốn khôi phục lại nguyên dạng các thông số trên về lại bản chất ban đầu của hình ảnh đang tương tác, hãy tick chọn As Shot. Khi có bất cứ thay đổi nào về các thông số trên, chương trình tự động bỏ chọn As Shot.


  • 0

Khái niệm Filter – Bộ lọc Blur trong Photoshop CS6 (Phần 1)

  1. Khái niệm Filter :

Filter (bộ lọc) là tập hợp các hiệu ứng đặc biệt để tạo nhiều hiệu quả trên ảnh nhằm mô phỏng các kết cấu hay biến hóa hình ảnh phong phú hơn, sinh động hơn.

Photoshop đã cung cấp cho chúng ta 1 Blur Tool, bên cạnh đó lại kèm thêm cả danh sách tùy chỉnh như vậy đủ biết chức năng làm mờ này có vị trí quyền lực như thế nào trong Photoshop.

Từ từ chúng ta sẽ bàn hết về các lệnh con của Filter, trong phần này tôi sẽ giới thiệu riêng về Blur.

  1. Bộ lọc Blur :

Làm mờ vùng chọn hoặc toàn hình ảnh theo nhiều cách.

Có tất cả là 14 loại. Các phiên bản Photoshop đời trước không có 3 loại đầu tiên.

PTS_178

Homasg sẽ nói hết về 14 loại nên bài này cũng khá dài và sẽ chia ra làm 3 phần cho bạn đỡ chóng mặt. ^ ^ Hiệu ứng làm mờ rất độc đáo và ứng dụng khá nhiều nhưng tôi thật khá ngại vì làm việc lâu với các lệnh này dễ gây ra ảo giác.

Field Blur

Đúng như tên gọi, lệnh này làm mờ theo từng vùng riêng biệt và rất hay là nó cung cấp cho bạn khá nhiều tùy chỉnh.

Trên thanh đặc tính, bạn cần lưu ý:

PTS_177

Nếu bạn kiểm chọn “Save Mask to Channels” thì chương trình sẽ tạo thêm 1 layer mask của vùng chọn vào trong kênh Channels.

Đừng quên kiểm chọn Preview!

Cái button có biểu tượng như mũi tên quay lại thực chất không phải là Undo nhé, nó là “Remove all pins”, nếu click vào nó thì mọi ghim tùy chỉnh sẽ bị hủy và hình ảnh quay về trạng thái ban đầu.

Trong cửa sổ của Field Blur, lệnh Undo (Ctrl + Z) không có tác dụng.

Nút ngoài cùng, bạn có thể chọn Blur Gallery để mở các tùy chọn hoặc Reset Workspace để đưa tất cả thông số Gallery trở về trạng thái mặc định (tuy nhiên, những ghim bạn đang chỉnh vẫn được giữ nguyên trạng thái hiện tại).

Chúng ta vào phần tùy chỉnh chính nhé!

Khi rê chuột trên hình thì sẽ xuất hiện icon hình cái ghim, bạn muốn chỉnh cho khu vực nào thì click chuột ngay khu vực đó, khu vực tùy chỉnh sẽ được đánh dấu bằng 1 nốt tròn lớn (khoảng 20px). Đừng sợ click sai! bạn hoàn toàn có thể di chuyển, thêm, xóa các điểm ghim này.

Khu vực bên phải, mục Blur Tools: bạn có thể chọn 1, 2 hoặc cả 3 tùy chỉnh:

Field Blur: di chuyển thanh trượt Blur để điều chỉnh độ mờ cho từng điểm ghim của  từng vùng riêng lẻ.

Mặc định của từng ghim khi bạn click chọn sẽ là điểm mờ, dĩ nhiên sau đó bạn có thể tăng giảm độ mờ tùy ý cho từng vị trí ghim.

Iris Blur: hiệu ứng làm mờ cao cấp cho từng điểm ghim.

PTS_175 copy

Như tôi đã chú thích trên hình, bạn cần phân biệt những điều này (tôi nói từ trong ra ngoài nhé):

+ Bên trong cùng, điểm trung tâm là điểm ghim tùy chỉnh đã click chọn.

+ Vòng tròn dày biên màu xám mờ là vùng trung tâm hiển thị độ Blur. Bạn nhấn giữa chuột và xoay theo chiều kim đồng gồ trên vòng tròn này để tăng độ mờ, xoay theo chiều ngược lại là giảm và chỉnh Blur = 0 thì tọa độ này trở về nguyên trạng (dĩ nhiên là xung quanh phải có vài điểm ghim Blur khác thì bạn mới thấy rõ sự khác biệt).

+ Tiếp theo là 4 điểm giới hạn vùng trung gian. Bạn có thể rê chuột vào 1 trong 4 điểm này để mở rộng/ thu hẹp vùng trung gian, mức độ thì tùy thuộc vào độ trái ngược giữa Blur của vùng trung tâm với các vùng bên ngoài.

+ Đường trắng ngoài cùng là đường khoanh vùng ảnh hưởng (mặc dù chính xác nên gọi là đường ranh giới vùng Blur nhưng tôi chỉ gọi nó là vùng ảnh hưởng của hiệu ứng, vì có thể là Blur từ mờ – rõ hoặc ngược lại từ rõ – Blur mờ như trong hình minh họa, đã “rõ” thì không thể gọi là “Blur” đúng không nào?! ^ ^). Drag chuột tại đường trắng để mở rộng hoặc thu hẹp vùng ảnh hưởng.

Trên đường trắng này có 4 tiếp điểm vuông nhỏ, drag chuột tại 1 trong 4 điểm này để xoay hoặc biến dạng (thành hình tròn hoặc oval) vùng ảnh hưởng.

Trên đường này còn có 1 điểm vuông lớn (tôi gọi là điểm mở rộng vùng ảnh hưởng), drag chuột tại điểm này để mở rộng vùng ảnh hưởng có dạng hình vuông / chữ nhật bo góc.

Tilt-Shift: Làm mờ từng vùng riêng biệt theo 1 đường thẳng (có thể là phương ngang/dọc/chéo).

Lưu ý: nếu bạn không sử dụng Field Blur, mà chỉ sử dụng 1 trong 2 hiệu ứng Iris hoặc chỉ riêng Tilt-Shift, thì điểm ghim bạn click chọn mặc định sẽ là điểm rõ.

Như  trong hình minh họa lúc này tôi chỉ sử dụng một Tilt-Shift, các vùng xung quanh sẽ mờ theo 4 đường ranh giới. Khu vực giữa 2 đường ranh giới liền thẳng là khu vực trung tâm rõ nhất. Hai khu vực tiếp xúc giữa đường liền thằng và đường nét đứt là khu vực trung gian, mờ dần; và bên ngoài đường nét đứt là mờ nhất, thể hiện đúng nhất độ blur bạn tùy chỉnh trên thanh trượt Blur.

PTS_176

Bạn có thể mở rộng hoặc thu hẹp vùng trung tâm hoặc vùng trung gian bằng cách drag chuột ngay trên đường đó.

Trên đường thẳng phân vùng trung tâm (đường thẳng liền màu trắng) có 2 điểm tròn, drag chuột tại điểm này để xoay phương Blur theo cách bạn muốn (như trong hình minh họa, tôi đã xoay cho đường Blur xéo như vậy).

Thanh trượt Distortion cho phép bạn chỉnh độ biến dạng các nét. (Đã có ý làm mờ rồi còn quan tâm chi đến các nét nữa, tôi cảm thấy các nhà tạo ra chương trình này quá sức chu đáo rồi. =.= )

Mục Blur Effects: (tôi khuyên bạn nên để mặc định)

– Light Bokeh: tăng độ sáng cho các chi tiết sáng trong khu vực làm mờ.

– Bokeh Color: cân bằng màu cho vùng mờ, thường không biểu hiện rõ ràng, mức điều chỉnh quả thực không đáng kể, nên bạn có thể không cần quan tâm.

– Light Range: cân bằng sáng/ tối cho khu vực làm mờ. Nếu bạn chỉnh mức Blur cao như trong hình minh họa của tôi thì hiệu ứng này hầu như không có tác dụng.

 Filter > Blur > Iris Blur hay Tilt-Shift đều là lặp lại 2 lệnh con của Field Blur, bạn xem lại phía trên nhe!


error: Content is protected !!