Bộ lọc Filter Vanishing Point trong Photoshop (Phần 2)

Bộ lọc Filter Vanishing Point trong Photoshop (Phần 2)

Làm việc với Vanishing Point:

Mặc định, khi mới vào Vanishing Point, công cụ Create Plane Tool sẽ được chọn, chúng ta dùng nó để click tạo 4 điểm giới hạn của mặt phẳng.

Mẹo: Giữ kèm phím Ctrl trong lúc drag chuột tại các điểm neo nằm giữa của các cạnh để mở rộng (tạo thêm) 1 mặt phẳng có phối cảnh vuông góc với cạnh đó. Mặt phẳng mở rộng này không tách rời với mặt phẳng gốc và cạnh được mở rộng bị vô hiệu hóa, thay vào đó, nó trở thành cạnh của mặt phẳng mở rộng, có thể tiếp tục mở rộng hoặc dừng lại.

Mặt phẳng khép kin được tạo xong, công cụ Edit Plane Tool sẽ được chọn để tùy chỉnh mặt phẳng. Drag chuột tại các điểm neo để thay đổi vị trí của chúng hoặc scale các cạnh giới hạn nhằm thu nhỏ / phóng to / làm biến dạng mặt phẳng.

Khác với những tính năng mà chúng ta đã tìm hiểu ở các bài viết trước, giao diện Vanishing Point nhìn đơn giản thế nhưng cách áp dụng lại khá đa dạng.

Làm việc với vùng chọn trong Vanishing Point:

Bài này khá nhiều thuật ngữ nhập nhằng nên trước khi đọc tiếp, hãy xác định rằng bạn đã phân biệt được cách nói của Homa:

  • “mặt phẳng” : cái giới hạn trong 4 điểm được tạo ra từ Create Plane Tool.
  • “vùng chọn” : cái được tạo ra từ Marquee Tool, có 2 vai trò tùy trường hợp.

Trường hợp 1: Homa gọi là “vùng chọn loại 1” đóng vai trò là mẫu tô để áp trên 1 hoặc nhiều mặt phẳng (như trong hình dưới đây, vùng chọn là cái cửa).

Tại vùng chọn, giữ kèm phím Alt trong lúc drag qua chỗ khác trên hình ảnh để “tô” nó, nói cách khác là ta đang nhân bản mẫu tô này đế áp vào vị trí khác. Vị trí này có thể là cùng mặt phẳng hoặc khác mặt phẳng.

Trường hợp 2: Homa gọi là “vùng chọn loại 2” đóng vai trò khoanh vùng xác định khu vực cần tô để lấy mẫu tô khác tô vào. Nó ngược lại với loại 1.

Chẳng hạn như trong hình dưới đây, vùng chọn vẫn là cái cửa, nhưng bây giờ Homa muốn lấy mảng tường hoặc đối tượng nào đó để lấp bít cái cửa này.

Giữ kèm phím Ctrl trong lúc drag chuột qua chỗ khác để lấp đầy vùng chọn bằng khu vực tương ứng trên hình ảnh. Khu vực này có thể là cùng mặt phẳng hoặc khác mặt phẳng.

Chúng ta cũng có thể thu phóng, lật ngược hoặc xoay vùng chọn đó bằng Transform Tool (T), để phù hợp với vị trí theo cách ta muốn.

Một vùng chọn từ mặt phẳng này hoàn toàn có thể áp lên mặt phẳng khác, bằng cách tại Marquee Tool, sau khi tạo vùng chọn, trực tiếp drag chuột để di chuyển vùng chọn đó tương ứng lên mặt phẳng khác. Hoặc để copy thì nhấn giữ phím Alt trong lúc drag chuột…

hoặc nhấn giữ Ctrl để tô vùng chọn đó bằng một mẫu khác như thao tác đã nói trên (như trong hình dưới đây, Homa đã lấy mảng vách để “bít” cái cửa sổ)

Để tạo vùng chọn là toàn bộ mặt phẳng ta double-click vào mặt phẳng đó.

Để bỏ vùng chọn, ta click sang chỗ trống khác hoặc dùng tổ hợp phím Ctrl + D.

Đến bài này thì Homa nghĩ các bạn không còn lạ gì với Brush và Eyedropper Tool nữa nên chúng ta sẽ không phân tích nó mà đi đến Stamp Tool – bạn hẳn đã gặp tool này trong bài viết về nhóm các công cụ phục chế ảnh mà Homasg đã giới thiệu trước đây.

Công dụng và cách hoạt động cũng tương tự như Stamp Tool của giao diện chính.

Sau khi thiết lập thông số về kích thước, độ sắc nét, độ mờ đục… như đã nói đến trong phần 1.

—> Thao tác: Bấm Alt và click để chọn vùng làm mẫu tô (kích thước vùng tùy vào độ Diameter). Sau đó click sang vùng khác để áp mẫu tô lên. Hoặc bấm kèm Shift + click để áp mẫu tô đó một cách thẳng hàng lên vùng mặt phẳng­­­ cần tô.

Này hiệu quả với những vùng/ chi tiết nhỏ nhỏ, ví dụ như xóa cái rãnh trên vách tường thế này.


Bộ lọc Filter Vanishing Point trong Photoshop (Phần 1)

Vanishing Point là bộ lọc giúp đơn giản hoá việc chỉnh sửa những chi tiết được quy về mặt phẳng trong các hình phối cảnh (ví dụ như các mặt của tòa nhà, tường, sàn nhà hoặc bất kỳ đối tượng nào có thể quy về hình tứ giác – hình chữ nhật trong phối cảnh).

Nguyên tắc hoạt động của Vanishing Point: bạn phải chọn đúng giới hạn (giả lập) mặt phẳng của đối tượng cần tương tác, sau đó áp dụng các chỉnh sửa như vẽ, sao chép, dán và chuyển đổi. Tất cả các chỉnh sửa của bạn đều được tuân thủ theo các nguyên lý phối cảnh, điều này giúp tạo nên kết quả thực tế và logic hơn.

Trước khi đi vào phân tích, chúng ta cùng xem trước kết quả một chút…

(Không nói đến vấn đề đẹp xấu thế nào so với ngoài thực tế, hình ví dụ trên chỉ để minh họa cho bài viết)

Với những công cụ đã đề cập trong các bài trước, để có kết quả như vậy bạn có thể khoanh vùng chọn rồi Transform > Distort hoặc Perspective, để thực hơn chút nữa thì add Mask và dùng Brush quẹt quẹt điều chỉnh các vị trí nối cho tự nhiên hơn… Cách này hoàn toàn không sai. Chúng ta luôn luôn có hơn 1 cách để giải quyết vấn đề. Nhược điểm của cách này: dựng phối cảnh dựa trên cảm giác chủ quan là nhiều. Nhưng trong bài này, cụ thể sau khi đọc bài này, Homasg nghĩ sẽ có không ít bạn quên đi cách trên để ưu tiên dùng Vanishing Point. Chúng ta cùng phân tích để xem nó vận hành như thế nào…

Trước khi vào Filter > Vanishing Point (Alt + Ctrl + V), bạn nên nhân bản layer để các thao tác không ảnh hưởng đến ảnh gốc.

Hộp công cụ bên trái, lần lượt từ trên xuống dưới là:

  1. Edit Plane Tool (V): Chọn, chỉnh sửa, di chuyển, thay đổi kích thước các mặt phẳng giả lập.
  2. Create Plane Tool (C): Tạo, xác định 4 góc giới hạn của mặt phẳng, điều chỉnh kích thước và hình dạng của mặt phẳng.–> Xem 4 mặt phẳng mà Homasg đã tạo trên hình.
  3. Marquee Tool (M): Tạo các vùng chọn hình vuông hoặc hình chữ nhật trên mặt phẳng (đã được tạo giả lập bằng Create Plane Tool), di chuyển và xác lập vùng chọn tương ứng trên mặt phẳng mà ta di chuyển tới. Còn có: double-click để chọn toàn bộ mặt phẳng.
  4. Stamp Tool (S): tô đối tượng bằng mẫu tô (vùng được chọn) có sẵn trên chính hình ảnh đang tương tác.

Trước khi thao tác, ta cần thiết lập các thông số của công cụ này trên thanh đặc tính :

Từ trái qua phải lần lượt là:

  • Diameter: Kích thước đầu cọ, dao động từ 1 – 500.
  • Hardness: Độ cứng (sắc nét) hay mềm (tán mờ) của đầu cọ, dao động từ 0 – 100.
  • Opacity: độ mờ đục, dao động từ 0 – 100.
  • Heal: một dạng hòa trộn màu, có 3 chế độ:
    Off: ngăn chặn hòa trộn màu giữa mẫu tô với hình gốc.
    Luminance: làm bật tông (làm sáng) đường biên mẫu tô.
    On: cho phép hòa trộn màu với hình gốc.
  • Tick chọn Aligned nếu bạn muốn giữ mẫu tô này để tiếp tục áp lên những vùng khác.

—> Thao tác: Bấm Alt và click để chọn vùng làm mẫu tô (kích thước vùng tùy vào độ Diameter). Sau đó click sang vùng khác để áp mẫu tô lên. Hoặc bấm kèm Shift + click để áp mẫu tô đó một cách thẳng hàng lên vùng mặt phẳng­­­ cần tô. (Chi tiết sẽ được trình bày trong phần 2)

5. Brush Tool (B): tô lên hình ảnh bằng màu (đơn sắc) được chọn.

Các thông số như Stamp Tool, có thêm phần Brush Color để chọn màu.

Click + Drag chuột để tô. Giữ kèm Shift + click để quy về chế độ tô màu theo đường thẳng. Bạn cũng có thể bật Heal ở chế độ Luminance để hòa trộn màu tô với nền (hình gốc).

6. Transform Tool: Co dãn, xoay, di chuyển vùng chọn thả nổi, tương tự như Free Transform bên ngoài.

7. Eyedropper Tool (I): hút màu

8. Hand Tool (H): Click + drag chuột để đi tới vùng nhìn cần.

9. Zoom Tool (Z): Phóng to / thu nhỏ vùng nhìn.


error: Content is protected !!